 |
|
Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Thu (bìa, phải) giới thiệu nấm được trồng trên giá thể là lục bình. Ảnh: NHẬT CHÁNH |
Nhiều tuyến kênh rạch ở vùng ĐBSCL đang “chết nghẹt” vì lục bình. Những nhà máy xay xát thải ra trấu; các hộ chăn nuôi thải ra chất thải
gây ô nhiễm. Những chất thải “tai họa” đó hoàn toàn có thể trở thành nguồn tài nguyên giúp nông dân thoát nghèo, đồng thời góp phần cải thiện môi trường sống. Đó là những mục tiêu mà dự án VIE/020- dự án “Sản xuất nông thủy sản bền vững và năng lượng tái tạo từ lục bình và chất thải” (gọi tắt là dự án Bèo lục bình) hướng đến.
Tận dụng từ A đến Z
Sẽ không có phần nào của lục bình - từ rễ đến thân, lá- bị bỏ đi. Tất cả được sử dụng trong một qui trình hết sức chặt chẽ. Lục bình sau khi mua về, được sơ chế- thân, lá và rễ cắt riêng. Rễ lục bình được sử dụng để sản xuất phân hữu cơ vi sinh. Thân và lá lục bình được cắt nhỏ, ép lấy nước. Phần nước ép lục bình được đưa vào hầm ủ hoặc túi ủ biogas để sinh năng lượng phục vụ cho việc đun, nấu, chạy máy phát điện... Phần bã lục bình được sử dụng để trồng nấm...
Những mô hình trình diễn của dự án Bèo lục bình tại Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo dự án Bèo lục bình, xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, cho thấy khả năng tận dụng tối đa cây lục bình và các chất thải, phụ phẩm từ nông nghiệp. Phát huy được những khả năng này sẽ góp phần tăng thu nhập cho hộ nông dân và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Tại khu sản xuất nấm của Trung tâm, tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Thu, cán bộ Khoa Nông nghiệp và Ứng dụng Công nghệ sinh học, Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT), giới thiệu những tai nấm rơm, nấm bào ngư... thật to được trồng trên giá thể là rơm và lục bình. Tiến sĩ Thu cho biết: “Các thí nghiệm cho thấy nấm trồng trên lục bình hoặc lục bình trộn với rơm đều cho năng suất và chất lượng tương đương nhau. Thậm chí nấm trồng trên lục bình còn to hơn”.
Sau khi hoàn tất khâu làm nấm, phần giá thể là rơm hoặc lục bình sẽ cho ra mùn rơm hoặc mùn lục bình. Đây là nguyên liệu rất tốt để làm phân hữu cơ. Theo dự án, phân hữu cơ vi sinh lục bình được sản xuất từ rễ lục bình kết hợp với các nguồn chất thải, như: rơm, xác mía, bã bùn mía, phân heo, cặn hầm ủ biogas và nấm trichoderma. Loại phân này sẽ được sản xuất theo các phương thức: rễ lục bình + rơm + phân heo; rễ lục bình + xác mía + bã bùn mía; rễ lục bình + rơm + cặn hầm ủ biogas. Đối với phân trùn từ lục bình, có thể sử dụng riêng 2 loại trùn huyết và trùn quế. Nguồn thức ăn để nuôi trùn gồm các hỗn hợp: rễ lục bình + phân heo; rễ lục bình + phân bò.
Củi trấu cũng là một trong những sản phẩm độc đáo của dự án Bèo lục bình. Theo khảo sát của dự án, hàng năm, các nhà máy xay xát của tỉnh Hậu Giang thải ra khoảng 220.000 tấn trấu. Hiện nay, chủ yếu vỏ trấu được dùng để làm chất đốt dưới dạng đốt trực tiếp bởi trấu có khả năng cháy và sinh nhiệt tốt. Trung bình mỗi ngày, mỗi nhà máy xay xát thải ra 24,5 tấn trấu. Lượng trấu thải ra không được tiêu thụ ngay, phải ứ đọng lại. Các nhà máy sẽ un trấu thành phân trấu, đổ thành đống cao. Do đó, sản xuất bánh than trấu sẽ góp phần giải quyết vấn đề này.
Thạc sĩ Phạm Thị Vân, Khoa Công nghệ, Trường ĐHCT, nói: “Giá các loại nhiên liệu: ga, dầu lửa... đang tăng cao; củi thì ngày càng khó tìm... Vì vậy, sử dụng trấu để sản xuất thành củi trấu là giải pháp vừa kinh tế vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường”. Theo ước tính của dự án, nếu giá trấu nguyên liệu đầu vào khoảng 100 đồng/kg thì giá sản xuất 1kg than củi trấu là 250- 300 đồng. Thị trường có thể chấp nhận giá bán 500 đồng/kg than củi trấu vì chi phí bằng so với nấu củi và rẻ hơn so với nấu than đá.
Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế
Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quỳnh, cố vấn kỹ thuật Dự án Bèo lục bình, cho biết: “Mục tiêu của dự án triển khai những kết quả nghiên cứu của Trường ĐHCT vào việc sử dụng bèo lục bình và chất thải nông nghiệp để làm ra năng lượng, dưỡng chất cho cây, cho cá”. Theo tiến sĩ Quỳnh, phần quan trọng của dự án không chỉ là triển khai các nghiên cứu khoa học mà còn là tập huấn để bà con nông dân, nhất là bà con nông dân nghèo, áp dụng được những kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất để nâng cao thu nhập.
Qua hơn 1 năm triển khai, dự án Bèo lục bình đã đạt được những kết quả bước đầu trong phòng thí nghiệm và triển khai thử nghiệm các nội dung: sản xuất nấm rơm, biogas, sản xuất cá giống cho 105 nông hộ. Mục tiêu của cả dự án là sẽ tập huấn cho 2.340 nông hộ. Nhóm đánh giá giữa kỳ của dự án khuyến cáo nên chia nông dân ra làm 3 nhóm để tập huấn, đào tạo các nội dung phù hợp. Cụ thể: nhóm nông dân không đất sẽ được tập huấn thu hoạch và sử dụng thân lục bình làm hàng thủ công; nhóm nông dân nghèo, ít đất sẽ được tập huấn trồng nấm, sản xuất cá giống, phân hữu cơ, nuôi trùn. Nhóm nông dân có đất, khá sẽ được tập huấn sản xuất theo mô hình VACB.
Không phải tất cả những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đều có thể triển khai vào thực tế. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quỳnh cho biết: “Dự án sẽ chuyển giao những kỹ thuật mà bà con yêu cầu. Kết quả thăm dò thị trường cho thấy những nội dung được bà con quan tâm là: kỹ thuật sản xuất nấm rơm, kỹ thuật nuôi cá giống, thức ăn tự nhiên cho cá, hầm ủ biogas. Nhóm đánh giá giữa kỳ và nhóm đánh giá điều tra thị trường cũng khuyến cáo ngưng phổ biến kỹ thuật sản xuất thức ăn ủ chua vì số lượng trâu bò ở Hậu Giang rất ít. Ngoài ra, nên bổ sung vào dự án các hoạt động thu hoạch thân lục bình, phơi khô cung cấp cho nơi sản xuất hàng thủ công; hỗ trợ phát triển ngành nghề đan đát có sử dụng lục bình”.
Theo Tiến sĩ Quỳnh, làm nấm rơm không cần phải có nhiều đất, vốn ít, kỹ thuật sản xuất không khó lắm, lợi nhuận khá. Đánh giá của các chuyên gia Trường ĐHCT cho thấy hiện tại kỹ thuật sản xuất nấm rơm của người dân vẫn còn nhiều khiếm khuyết trong các khâu ủ rơm, lựa chọn meo, sử dụng phân thuốc hợp lý, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm... Vì vậy, người dân nghèo rất mong muốn được tập huấn kỹ thuật sản xuất nấm rơm. Và đây sẽ là nội dung ưu tiên tập huấn của dự án.
Ban đánh giá dự án giữa kỳ cũng cho rằng sự kết hợp giữa lục bình và rơm làm giá thể trồng nấm rơm hoặc trồng nấm trên giá thể là lục bình không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn. Tiến sĩ Quỳnh cho biết: “Lục bình có đến 92-95% nước trong khi rơm chỉ có 15-20% nước. Muốn dùng lục bình trồng nấm, phải cắt, phơi khô hoặc ép. Mua 1 tấn rơm về làm nấm ngay thì đơn giản hơn là để có 1 tấn lục bình khô phải lấy khoảng 90 tấn lục bình tươi cắt phơi khô”. Từ thực tế đó, dự án chủ yếu triển khai kỹ thuật trồng nấm trên rơm dù nghiên cứu trồng nấm trên lục bình ở phòng thí nghiệm đã cho những kết quả hết sức khả quan.
***
Dự án bèo lục bình- một dự án hướng đến mục tiêu giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho nông hộ- đã bước vào giai đoạn triển khai những kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào thực tế, với 2.340 nông hộ được tập huấn chuyển giao kỹ thuật. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quỳnh cho biết: “Chúng tôi hy vọng khoảng 30% nông hộ được đào tạo, tập huấn sẽ triển khai thành mô hình thực tế để nông dân những nơi khác đến xem và học hỏi”. Với những công nghệ được triển khai, lục bình nói riêng và các chất thải nông nghiệp nói chung sẽ không còn là mối đe dọa, gây ô nhiễm môi trường mà trở thành nguồn tài nguyên phong phú, giúp nâng cao thu nhập cho nông dân.
SỸ HUIÊN
|
Dự án VIE/020 là dự án nghiên cứu với mục tiêu dài hạn góp phần làm giảm nghèo cho người dân ở vùng nông thôn tỉnh Hậu Giang thông qua việc nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh khả năng và tiềm năng tạo thu nhập cho nông hộ từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu lục bình và các chất thải, phụ phẩm từ nông nghiệp. Đối tượng hưởng lợi của dự án là những hộ nông dân không đất sản xuất và những hộ nông dân có diện tích canh tác nhỏ hơn 2,3ha. |