* Thanh Long
Bài 2: Hiện thực hóa giấc mơ nông nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH), nền nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL cũng như cả nước đã và đang có những bước đi vững chắc. Công đầu thuộc về chủ trương đúng đắn trong việc đầu tư, xây dựng hệ thống thủy lợi đánh thức những vùng đất hoang hóa; bằng việc chọn, tạo ra nhiều loại giống cây, con cho năng suất và chất lượng sản phẩm cao; đưa cơ giới hóa (CGH) vào sản xuất... đã biến vùng ĐBSCL từ nghèo khó vươn lên khẳng định vai trò vựa lúa, vựa cá; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
* Đầu tư cho thủy lợi chủ trương đúng đắn
ĐBSCL có diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha; trong đó đất phèn và đất phèn mặn chiếm khoảng 1,6 triệu ha, tương đương 40% tổng diện tích tự nhiên và phân bố chủ yếu ở các vùng chính, gồm: Tứ giác Long Xuyên (TGLX), Đồng Tháp Mười (ĐTM), Tây sông Hậu và giữa vùng sông Tiền và sông Hậu, bán đảo Cà Mau... GS.TS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết: "Chúng ta đã chinh phục vùng đất phèn bằng giải pháp "sống chung" với phèn bằng một hệ thống thủy lợi khôn ngoan "ém phèn"". Cuộc chinh phục những vùng "đất chết" như TGLX, ĐTM là ví dụ điển hình.
Vùng TGLX diện tích hơn 470.000ha; trong đó, tỉnh An Giang chiếm khoảng 52%, tỉnh Kiên Giang chiếm khoảng 46% và còn lại là TP Cần Thơ. Lão nông Lê Văn Phải (Út Phải) ở ấp Hòa Tiến, xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, nhớ lại: "Vùng này hồi trước đất phèn, chua dữ lắm. Mùa kiệt - nước đỏ quánh như cau khô. Nhiều lúc mặt nước đóng váng phèn cứng tới nỗi con kiến bò qua còn được
". Theo ông Lê Minh Tùng, Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang, thời kỳ khô kiệt nhất trong năm ở vùng TGLX mực nước chỉ từ 10-20cm. Nhưng, vào mùa lũ, nơi đây nước ngập sâu từ 12,5m và kéo dài từ 3-5 tháng. Trước năm 1988, vùng TGLX có hơn 50.000ha hoang hóa do tình trạng đất nhiễm chua phèn
Nên nơi đây, ngày xưa được mệnh danh là vùng đất "nghèo muôn thuở". Nhưng sau hơn 20 năm khai phá, hàng loạt các công trình thủy lợi được đào ngang, xẻ dọc..., vùng TGLX đã được điện khí hóa, CGH và trở thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của vùng ĐBSCL. Theo thống kê chưa đầy đủ của các ngành hữu quan, cuối năm 2011, vùng TGLX đạt trên 4,73 triệu tấn lúa, chiếm hơn 20% sản lượng lúa của toàn vùng ĐBSCL.
Tỉnh Long An có khoảng 300.000ha (gần 50%) thuộc vùng ĐTM; chiếm khoảng 60% diện tích của toàn tỉnh. Vùng ĐTM Long An trước đây là vùng hoang hóa, phân bố dân cư rải rác; có địa hình trũng, bị nhiễm phèn nặng, thiếu nước ngọt sản xuất và sinh hoạt, bị ngập lũ hằng năm. Hầu hết diện tích chỉ canh tác lúa 1 vụ/năm với các loại giống lúa dài ngày, năng suất thấp. Sau năm 1975, để giải quyết vững chắc vấn đề thiếu lương thực, một vấn đề lớn được đặt ra cho Long An là phải cải tạo vùng ĐTM thành vùng trọng điểm về sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho khu vực. Hàng loạt các chính sách khai thác tiềm năng vùng ĐTM được Long An tập trung thực hiện. Theo đó, Long An từng bước đầu tư các công trình thủy lợi, khai hoang, phục hóa, CGH, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; chuyển từ lúa 1 vụ dài ngày năng suất thấp sang lúa ngắn ngày năng suất cao... Nhờ đó, sản lượng lương thực của tỉnh đã tăng từ 600.000 tấn năm 1985 lên hơn 2,8 triệu tấn năm 2013; khu vực ĐTM của tỉnh chiếm khoảng 2 triệu tấn. Những kết quả đạt được đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng ĐTM, đưa vùng này trở thành một trong những vùng sản xuất lương thực trọng điểm của khu vực ĐBSCL.
Tỉnh Cà Mau nằm ở cực Nam của Tổ quốc có 3 mặt giáp biển và có 2 hệ thống sinh thái mặn, ngọt riêng biệt. Ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, cho biết: Năm 1997, tỉnh Minh Hải chia tách thành 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Hiện trạng kết cấu hạ tầng nói chung và thủy lợi của tỉnh nói riêng vào thời gian này rất yếu kém, chưa đồng bộ. Việc quản lý, vận hành còn bất cập nên khó tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất ngư, nông nghiệp. Xác định thủy lợi đóng vai trò quan trọng, nhất là trong điều kiện đất nhiễm phèn, mặn, phụ thuộc nước mưa, theo mùa nên Trung ương, Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thủy lợi phục vụ sản xuất. Từ năm 2000 đến nay, Cà Mau đầu tư hơn 1.196 tỉ đồng cho thủy nông nội đồng với trên 2.900 công trình, tổng chiều dài gần 12.740km. Tỉnh Cà Mau đã hình thành hệ thống công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, từng bước đáp ứng yêu cầu sản xuất, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh từng bước chuyển dịch đúng hướng, hình thành một số vùng chuyên canh, mở ra triển vọng về một nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững. "Việc ưu tiên phát tiển hệ thống thủy lợi trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau và cả ĐBSCL là một chủ trương đúng đắn" ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, khẳng định.

Nhờ chủ trương đầu tư cho thủy lợi, nhiều vùng hoang hóa giờ thành trọng điểm sản xuất lương thực ở vùng ĐBSCL. Trong ảnh: Bộ mặt nông thôn xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thuộc vùng TGLX (nơi ngày xưa được mệnh danh là "vùng đất chết") ngày càng khang trang hơn. Ảnh: T. LONG
* Từ cuộc "cách mạng xanh"
Cuộc chinh phục đồng đất bằng ý chí của con người, trợ lực của CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đã gặt hái được nhiều thành công. Về vấn đề này, GS.TS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho rằng: Để khai thác "mỏ mùn" vô cùng lớn thành "kho thóc" tăng trưởng hằng năm là bằng hệ thống giống và kỹ thuật canh tác lúa thích hợp. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách mới, nhất là sau đổi mới đã gỡ bỏ nhiều rào cản mà cách gọi trước đây là "cởi trói" để nông dân và doanh nghiệp tiếp nhận, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật: Những năm 1800, để có thể tăng thêm 1 tấn lúa cho 1 ha đất sản xuất, ông cha ta phải mất 80 năm cho đến năm 1955. Và chỉ còn 30 năm tính từ 1960 đến 1985 do đưa được vào sản xuất các giống lúa IR được chọn tạo bởi Viện Lúa Quốc tế (IRRI); tiếp tục giảm còn 15 năm từ 1990 đến 1999, do mở rộng diện tích dùng giống lúa cao sản ngắn ngày trong quá trình đổi mới từ năm 1986. Từ năm 2000 đến nay, để tăng thêm 1 tấn lúa cho 1ha, người nông dân chỉ cần bỏ ra năm ba năm... Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật về mặt khoa học và công nghệ, những biểu hiện cụ thể và thiết thực của cuộc "cách mạng xanh" phải kể đến là khâu lúa giống và kỹ thuật canh tác thích hợp. Thời kỳ đầu, từ những năm 1960, 1970 là công của các nhà khoa học IRRI tạo chọn và giới thiệu cho sản xuất lúa các giống IR. Từ thập niên 80-90, trên cơ sở vật liệu di truyền của IR, của trong nước và nhiều nước khác, giống lúa của các nhà khoa học Việt Nam, chủ yếu là ở ĐBSCL tạo chọn được nông dân ngày càng sử dụng trên diện tích rộng. Đặc biệt, vài thập kỷ gần đây, chiếm khoảng 70-80% diện tích lúa. Theo Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm cây trồng Nam bộ, thành tựu nổi bật của công tác chọn tạo giống lúa ở ĐBSCL là đã phát triển số lượng lớn giống lúa ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng gạo khá đến tốt. Nhiều giống phát triển mạnh và trở thành giống chủ lực hoặc giữ vị trí quan trọng trong sản xuất, như: OM4900, OM5472, OM4218, OM6162, OM7347, OM6976, OM5451,
Ông Nguyễn Văn Châu, nông dân ở ấp Tân Phú 2, xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, cho rằng: Nhờ sử dụng giống lúa ngắn ngày, áp dụng "3 giảm, 3 tăng", IPM, bón phân theo bảng so màu lá lúa,... vào quá trình sản xuất giúp nâng năng suất, chất lượng hạt lúa làm ra đạt cao hơn, hiệu quả kinh tế từ việc trồng lúa tăng hơn. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả trồng lúa, ông tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trong chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi; tham quan học tập kinh nghiệm nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao ở trong và ngoài tỉnh... Từ năm 2008 đến nay, ông áp dụng thành công mô hình trồng lúa - trồng màu lấy trái, lấy củ. Ông Nguyễn Văn Châu khẳng định: "Thành công của nông dân chính là áp dụng thành công tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Nhờ đó, cuộc sống ngày càng sung túc hơn".
*... Đến hạt lúa tự...lăn vào nhà
Nông dân Nguyễn Minh Tuấn, thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ, cho biết: Ông được kể lại rằng, ngày xưa ông bà ta kỳ vọng là "hạt lúa như trái dừa khô, có thể... tự lăn vào nhà". Niềm mơ ước này gần như đã trở thành hiện thực. Làm lúa bây giờ không còn cực như trước nữa. 5ha trồng lúa bây giờ, làm còn khỏe hơn 2 công tầm cấy (1.300m2/công) ngày xưa. Vì ngoài khâu gieo sạ, các khâu còn lại của quá trình sản xuất, phần lớn máy móc đã thay cho sức người. Đến kỳ thu hoạch, máy gặt đập liên hợp chạy dập dìu ngoài đồng. Thu hoạch vừa xong, theo hệ thống kinh mương nội đồng, thương lái đem tàu, ghe đến tận ruộng thu mua lúa tươi. Người trồng lúa chỉ việc mang tiền về nhà. Đó là thành công người nông dân dễ thấy nhất của chủ trương CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn mà Nhà nước thực hiện từ trước đến nay. Đó là thành công của quá trình CGH trong sản xuất nông nghiệp.
Thống kê từ Viện Lúa ĐBSCL, ĐBSCL có mức trang bị động lực cho nông nghiệp đạt mức cao nhất: 1,85 mã lực/ha (bình quân cả nước 1,16 mã lực/ha). Sau gần 30 năm đổi mới, trồng trọt vẫn là ngành chính của nông nghiệp. Trong đó, cây lúa đóng vai trò chủ lực và được CGH mạnh nhất vào các khâu trong quy trình sản xuất. Nếu so tổng diện tích đất canh tác ở ĐBSCL, thì: khâu làm đất, bơm nước, tách hạt (sử dụng máy đập lúa và máy gặt đập liên hợp), phun phân bón lá, thuốc trừ sâu bệnh được CGH gần như 100%. Khâu gieo cấy, sau thu hoạch (làm sạch-phơi sấy-bảo quản) trên dưới 30%... TS Hoàng Bắc Quốc, Viện Lúa ĐBSCL, cho biết: Thực hiện CGH trong nông nghiệp góp phần giảm chi phí và tăng thu nhập cho người sản xuất. Chỉ tính riêng lợi ích của việc áp dụng máy gặt đập liên hợp với các mức giảm về chi phí dịch vụ thu hoạch (giảm 400.000 500.000 đồng/ha) so với cắt tay, đập máy và giảm 2-3% hao hụt so với phương pháp thu hoạch nhiều giai đoạn thì hằng năm đã tiết kiệm được 1.600 2.000 tỉ đồng và giảm thất thoát 500.000-700.000 tấn. Đó là chưa kể việc giải quyết được sự thiếu hụt lao động vào mùa thu hoạch và chất lượng hạt gạo được nâng lên. Quá trình CGH trong sản xuất nông nghiệp trong tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn đã và đang làm thay đổi dần dần suy nghĩ và tư duy của người nông dân ở ĐBSCL từ sản xuất mang tính tự cấp với công cụ thô sơ, phương thức sản xuất lạc hậu, tiến lên sản xuất hàng hóa lớn với máy móc thiết bị hiện đại, phương thức sản xuất tiên tiến. CGH đã góp phần tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, giảm tổn thất cho tất cả các khâu trước, trong và sau thu hoạch. Từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm hàng hóa tiêu dùng, xuất khẩu và tăng thu nhập cho người nông dân. "Một thành công ít ai nghĩ tới, chỉ trong thời gian ngắn, diện tích lúa thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp của cả vùng đã lên tới 60%. Trong thực tế, nhiều hộ nông dân đã mua sắm máy móc để làm dịch vụ một hay nhiều khâu canh tác. Các hộ có thể làm cá thể hoặc liên kết thành những nhóm (nhiều chủ máy) với một số lao động kỹ thuật (lái máy, không có vốn) và lao động thủ công. Đây cũng là bước đầu của hình thức chuyên môn hóa trong sản xuất nông nghiệp", TS Hoàng Bắc Quốc đánh giá.
***
Thành công của công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp, thôn thôn ở vùng ĐBSCL đã rõ. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề mắc mứu cần được nhìn nhận một cách thấu đáo.
(Còn tiếp)
Bài 3: Những vấn đề tồn tại chưa thể giải quyết