* Thanh Long
|
Thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước được xác định chính thức từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Từ đó đến nay, những chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp, nông thôn ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn vùng ĐBSCL và cả nước ngày càng phát triển, đời sống nông dân từng bước được cải thiện và nâng cao. Dù kết quả được đánh giá là khá khả quan nhưng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn gần 30 năm qua ở vùng ĐBSCL vẫn còn nhiều thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. |
Bài 1: Biến chủ trương, chính sách thành hành động thực tiễn
Nhiều năm qua, ĐBSCL luôn nhận được sự quan tâm của cả nước để đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Gần 3 thập kỷ qua, những Nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước áp dụng vào thực tiễn một cách bài bản, căn cơ góp phần đưa kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đạt được những thành tựu đáng kể.
Chủ trương lớn, chiến lược hàng đầu
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược hàng đầu. Xem đây vừa là cơ sở, vừa là lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Quá trình này, PGS.TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, dẫn chứng: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra những quan điểm, chủ trương quan trọng về đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới về kinh tế; trong đó vai trò của nông nghiệp được đề cao. Nghị quyết Đại hội VI nêu rõ: Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm, 1986 - 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Để đạt được mục tiêu đó, phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (Khoá VII), lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khái niệm “CNH-HĐH nông nghiệp” và “kinh tế nông thôn”, xem đây là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
 |
|
Nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL gần 30 năm sau ngày đổi mới đã có sự thay đổi toàn diện. Trong ảnh: Cánh đồng lúa đang thu hoạch ở xã Thạnh Tiến, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ. Ảnh: T. LONG
|
Sau 10 năm đổi mới, Nghị quyết số 06 - NQ/TW của Bộ Chính trị, khóa VIII “Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” đã cụ thể hóa những nội dung CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, như: “Coi trọng thực hiện CNH-HĐH trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa...; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hóa với thực hiện dân chủ hóa và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn...”. Đến Hội nghị Trung ương 5, khoá IX, Đảng ta lần đầu tiên ra nghị quyết chuyên về CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn - Nghị quyết “Đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”
Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 7, khóa X Đảng ta đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. PGS. TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng: Đây là Nghị quyết căn bản, toàn diện về “tam nông”. Nghị quyết hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, hiệu quả, phát triển toàn diện, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân một cách vững chắc. Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới. Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hóa, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn.
“Như vậy, kể từ Đại hội VI đến nay, trong tư duy lãnh đạo, Đảng ta luôn nhất quán với quan điểm CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề mang tính chiến lược. Qua mỗi kỳ Đại hội tư duy lý luận của Đảng về vấn đề này không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Trong giai đoạn hiện nay, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được xác định là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH-HĐH đất nước” PGS. TS Vũ Văn Phúc khẳng định.
Thực tiễn ở vùng ĐBSCL
ĐBSCL rộng lớn, tập trung đông dân cư, là vùng có tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước; có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Vì vậy, vấn đề CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền vùng ĐBSCL quan tâm.
Ông Hồ Việt Hiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho biết: Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IV (tháng 10-1986) đã nghiêm túc đánh giá tình hình và đề ra chủ trương, chính sách cùng các giải pháp để tháo gỡ mọi trở lực, giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Trong đó, nông nghiệp, lương thực là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lược. Từ năm 1986, tỉnh An Giang đã có nhiều chủ trương và giải pháp đột phá. Đó là: chính sách giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất (1988); chính sách giao đất cho hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1987; chính sách “nhường cơm xẻ áo”; chính sách quản lý, khai thác và sử dụng đất đai (1988); chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân (1990); chính sách vận động thành lập các hình thức hợp tác đơn giản trong sản xuất nông nghiệp (1991)
“Năm 1986 đến nay, kinh tế của tỉnh có bước phát triển vượt bật. Từ một tỉnh đứng trước ngưỡng thiếu lương thực và hộ nghèo cao nhưng từ khi đổi mới, sản lượng lương thực của tỉnh từ 900.000 tấn (năm 1985) tăng lên gần 1,5 triệu tấn (năm 1990) và đạt gần 4 triệu tấn (năm 2013). Từ đó, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, nhất là những vùng khó khăn được nâng lên đáng kể”, ông Hồ Việt Hiệp đúc kết.
Gần 30 năm qua, từ sau khi có Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Cần Thơ có sự chuyển mình mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực nông nghiệp. Bà Phạm Thị Kiều, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, đánh giá: Giai đoạn 1986-2003, nông nghiệp Cần Thơ phát triển nhanh, do nông dân tự chủ trong sản xuất. Nền nông nghiệp Cần Thơ tuy tăng trưởng nhưng chưa bền vững, còn tùy thuộc vào thiên nhiên và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Giai đoạn 2004 - 2013, mặc dù tốc độ đô thị hóa nhanh và diện tích đất nông nghiệp giảm, nhưng nhờ chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng nên sản xuất nông nghiệp đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Bởi giai đoạn này, Cần Thơ chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và được công nhận là đô thị loại I. Đặc biệt, phát huy vai trò trung tâm của vùng ĐBSCL theo tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”, Đảng bộ và chính quyền Cần Thơ luôn đặt vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, xem đây là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội. Là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, nhưng các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn được thành phố huy động và phát huy khá tốt, nhiều công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư mới và nâng cấp mở rộng; cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực; công tác khuyến nông khuyến ngư, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được đẩy mạnh, nhất là về giống mới, kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, điện khí hóa
góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và hiệu quả sản xuất. Kết quả 10 năm kể từ khi trực thuộc Trung ương, mặc dù tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp giảm, song giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp (giá so sánh 1994) của thành phố tăng bình quân 4,7%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng thủy sản, dịch vụ nông nghiệp theo nhu cầu sản xuất và thị trường: tỷ trọng giá trị nông nghiệp từ 83,2% xuống còn 67,9%, tỷ trọng giá trị thủy sản từ 15,9% tăng lên 31,8% của năm 2004 và năm 2013. Năm 2013, tổng diện tích đất trồng lúa 87.985 ha, hệ số vòng quay đất 2,69 lần (năm 2004 là 2,45 lần). Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2013 đạt 236.539 ha, tăng 2,9% so năm 2004; năng suất đạt 5,79 tấn/ha; sản lượng lúa đạt trên 1,37 triệu tấn, tăng 14,7% so năm 2004.
ĐBSCL đã khẳng định vị thế trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo, thủy hải sản và cây ăn trái hàng đầu của cả nước. Nhiều năm liền và hiện tại, ĐBSCL dẫn đầu về sản lượng nông nghiệp và kim ngạch xuất khẩu nông sản. Vùng góp chung cho cả nước 50% sản lượng lúa, 90% lượng gạo xuất khẩu, 70% sản lượng trái cây, 70% sản lượng thủy sản, 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản
Riêng sản xuất lương thực, đến năm 2010, vùng ĐBSCL đã đạt và vượt chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra mục tiêu cho năm 2020. Kết quả này, ông Nguyễn Phong Quang, Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, nhận định: Đảng bộ, chính quyền các cấp và nhân dân vùng ĐBSCL nỗ lực phấn đấu, thực hiện sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương lớn về CNH-HĐH. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch và phát triển đúng hướng với quy mô chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản (khu vực I), tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng (khu vực II) và dịch vụ (khu vực III). Theo đó, năm 2000, tỷ trọng khu vực I chiếm 53,5%; khu vực II chiếm 18,5%; khu vực II chiếm 28%. Các con số tương ứng của năm 2010 là: 39%, 26% và 35% và năm 2013 là: 36,49%; 25,75% và 37,76%. Từ đó góp phần đưa đời sống người dân nông thôn phát triển lên bước mới.
***
Nông nghiệp, nông thôn đã có những bước chuyển đổi cơ bản, đã gặt hái được nhiều thành công sau gần 30 năm kể từ ngày đổi mới. Thành công này là tổng hợp nhiều giải pháp mà trong đó nổi bật là việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, tiến bộ về giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng
vào sản xuất. Cuộc “cách mạng xanh” trên mặt trận nông nghiệp đã và đang thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
|
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, đến năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của khu vực ĐBSCL ước đạt 34,6 triệu đồng, tăng 2,3 triệu đồng so năm 2012. Các địa phương có mức thu nhập bình quân đầu người cao là: TP Cần Thơ 62,9 triệu đồng; Kiên Giang 44,8 triệu đồng; Long An 40 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng khoảng 7,24% (giảm 2% so với năm 2012), hộ cận nghèo chiếm 6,51%. Tỷ lệ lao động có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ sau khi học nghề nhưng có năng suất, thu nhập cao hơn khi chưa đào tạo đạt khoảng 76,8% (cả nước 79,3%); lao động thuộc hộ nghèo, sau khi học nghề có tỷ lệ thoát nghèo chiếm 21,5% (cả nước 22,6%).
Năm 2013, tổng sản lượng thu hoạch lúa ước đạt trên 24,8 triệu tấn, tăng khoảng 500 ngàn tấn so cùng kỳ. Các địa phương có sản lượng lúa cao như: Kiên Giang 4,5 triệu tấn; An Giang 3,9 triệu tấn; Long An 2,8 triệu tấn. Toàn vùng thực hiện 225 mô hình cánh đồng lớn, với diện tích 66.631 ha
|
(Còn tiếp)
Bài 2: Hiện thực hóa giấc mơ nông nghiệp