* Gia Bảo - Thành Nguyễn
Kỳ cuối: Sống chung với biến đổi khí hậu
Thích nghi và sống chung với biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề đặt ra trong hiện tại và tương lai cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trận lũ lịch sử năm 2000, ĐBSCL tổn thất rất lớn, nhưng từ đó đến nay, nhiều mô hình làm ăn trong mùa lũ đã phát huy hiệu quả. Người dân ĐBSCL có nhiều kinh nghiệm trong thích nghi với thiên tai, diễn biến thời tiết...
Qui hoạch công trình đa mục tiêu
Theo các nhà khoa học, BĐKH và nước biển dâng (NBD) trong một vài năm trở lại đây có những tác động rõ rệt tới ĐBSCL. Đặc biệt là ngập lụt do triều cường, 3 thành phố lớn ở ĐBSCL thường xuyên bị ngập nặng do triều cường gồm: Vĩnh Long, Cần Thơ và Cà Mau. Cuối tháng 9 đầu tháng 10-2011, lũ kết hợp với triều cường gây nhiều thiệt hại về giao thông vận tải, tỉnh An Giang bị thiệt hại nặng nhất với gần 100km đường giao thông bị ngập; Đồng Tháp gần 70km đường giao thông nông thôn bị ngập, giao thông tại tỉnh lộ 848 bị ách tắc; TP Cần Thơ gần 60km đường giao thông nông thôn bị ngập, thiệt hại lớn tới người dân và hoạt động giao thương buôn bán.
 |
|
Công trình Hồ Xáng Thổi được đầu tư xây dựng nhằm giúp TP Cần Thơ xử lý nước thải, thoát nước. Ảnh: T. HÀ |
Thêm vào đó, NBD sẽ làm gia tăng độ cao sóng ven bờ, xói lở và có thể gây suy thoái mạnh mẽ, thậm chí làm biến mất các rừng ngập mặn ven biển. Điển hình như các xã của các tỉnh ven biển ĐBSCL hiện đang bị xói lở nghiêm trọng do mất rừng ngập mặn như xã Tân Thành, Tân Điền tỉnh Tiền Giang; xã Trường Long Hòa, Hiệp Thành tỉnh Trà Vinh; xã Thạnh Hải, Thừa Đức tỉnh Bến Tre; huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng; TP Bạc Liêu; huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi tỉnh Cà Mau và cửa sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang...
Tiến sĩ Nguyễn Hiếu Trung, Trưởng Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Viện phó Viện BĐKH, Đại học Cần Thơ, nói: “Có nhiều hướng nghiên cứu để thích ứng với BĐKH, nhưng cần hiểu rõ tài nguyên đất, nước ở từng tiểu vùng sinh thái và hiểu rõ lưu lượng nước trên thượng nguồn đổ về như thế nào mới tác động đến hạ nguồn. Cần tuyên truyền để người dân hiểu về BĐKH và có kịch bản ứng phó hiệu quả nhất”. Theo tiến sĩ Trung, hiện vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười có một số tuyến đê bao lửng ngăn lũ, nếu lũ cao sẽ cho tràn đê, người dân có nguồn cá để ăn, nhưng lũ rút thì hư đê phải tu sửa tốn kém. Do vậy, có thể tính đến phương án xây đê lửng kiên cố kết hợp giao thông và xây những đập tràn trên đê, xử lý tình huống nước lũ cao, đảm bảo sinh kế, mùa vụ cho dân trong vùng.
Các nhà khoa học cho rằng, ĐBSCL cần có các công trình thủy lợi, các tuyến đê sông, đê biển phải qui hoạch theo hướng đa mục tiêu, vừa kết hợp bảo vệ mùa vụ, ngăn mặn, trữ ngọt vừa đảm bảo giao thông và công trình qui hoạch phải tính đến yếu tố BĐKH. Tại TP Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chủ trì phối hợp với thành phố thực hiện “Dự án qui hoạch thủy lợi chống ngập úng cho thành phố” giai đoạn từ nay đến năm 2020. Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Hiện dự án đã trình Thủ tướng Chính phủ lần I và đang chỉnh sửa lại theo góp ý của Thủ tướng. Khi dự án được thông qua, trên cơ sở này, thành phố sẽ mời gọi đầu tư”. Theo ông Quỳnh, dự án có mức đầu tư khá lớn, phân kỳ nhiều giai đoạn, nếu việc huy động vốn hiệu quả, dự án được đầu tư đồng bộ đến năm 2020 sẽ giải quyết tình trạng ngập úng cho thành phố. Dự án này có tính đến BĐKH, góp phần để thành phố thích nghi tốt hơn với những thay đổi thời tiết trong tương lai.
Mới đây, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn 7341/VPCP-KTN (ngày 19-10-2011) truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc qui hoạch thủy lợi và sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Theo đó, để đảm bảo kinh tế- xã hội vùng ĐBSCL theo hướng bền vững, sản xuất nông nghiệp hiệu quả, từng bước thích ứng với điều kiện thiên nhiên trong bối cảnh BĐKH toàn cầu và NBD, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&PTNT phối hợp với các cơ quan liên quan, địa phương hoàn thành qui hoạch tổng thể thủy lợi, sản xuất nông nghiệp để có giải pháp tổng thể, căn cơ về kiểm soát lũ, bảo vệ dân cư, phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2012.
Hợp tác, quản lý nguồn tài nguyên
ĐBSCL cần chia sẻ tài nguyên nước và có giải pháp quản lý khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm là ý kiến mà các nhà khoa học đề xuất. Đây là điều kiện sống còn của toàn vùng nói chung và từng tỉnh nói riêng. Khi NBD trong một thời gian dài, độ mặn nước biển sẽ tăng 3-5%o, a- xít hóa đại dương, pH giảm sẽ làm cho hệ sinh thái rừng ngập mặn tại ĐBSCL bị đe dọa, do đặc điểm sinh học của một số loại cây ngập mặn không chịu được độ mặn cao và ngập trong nước trong thời gian lâu. Vì vậy, việc nghiên cứu về quy luật biến đổi đường bờ, quy luật bồi xói, vùng bãi bồi cần tính đúng để bồi cao kịp thời khi NBD, giảm ảnh hưởng tới hệ sinh thái rừng ngập mặn. Song song với đó, cần tiến hành nghiên cứu trồng thử nghiệm các giống cây chịu mặn và chịu ngập lâu trong nước hơn như: sú, vẹt, đước, mắm...
Ông Nguyễn Văn Xuân, Phân khu trưởng Phân khu phòng hộ Ba Tri (Ban Quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tỉnh Bến Tre), cho biết: “Năm 2011, tỉnh chủ trương trồng mới 100,8ha rừng phòng hộ theo chương trình thích ứng với BĐKH do WWF tài trợ, ở khu vực Ba Tri là 44ha. Trong tổng số 1.802ha rừng phòng hộ ở đây, có một phần là người dân quản lý. Đây là vùng bồi tụ lâu đời, người dân sinh sống trước khi có qui hoạch rừng phòng hộ, nên khó vận động họ giữ rừng. Song, trước sự sạt lở nghiêm trọng ở các tuyến đê vùng ven biển Ba Tri, người dân cũng ý thức hơn việc trồng và bảo vệ rừng”. Theo ông Xuân, chính sách khoán kinh phí trồng rừng được Ngân sách Nhà nước duyệt hiện chưa thể giúp người dân gắn bó với rừng, trong khi đây là vấn đề sống còn của vùng ven biển. Năm 2011, kinh phí trồng rừng được tỉnh phê duyệt đối với cây phi lao 1ha (gồm chi phí cây giống, công chăm sóc, quản lý...) chỉ hơn 14,9 triệu đồng/4 năm. Ông Xuân cho rằng, chưa tính đến cây giống, chỉ tính riêng phần ngày công lao động đã thấy bất hợp lý, do ngày công chỉ có 60.000 đồng/ngày, trong khi công nhật hiện tại trên 100.000 đồng/ngày. Do vậy, để khuyến khích dân trồng rừng, bảo vệ rừng cần cách tính căn cơ hơn.
Hiện nay, sản xuất lúa ĐBSCL đã được các nhà khoa học khuyến cáo người dân ứng dụng công nghệ sinh thái vào sản xuất lúa, giảm bớt tác hại do BĐKH. Công nghệ sinh thái giúp người dân kiến thiết đồng ruộng theo ý muốn nhằm thu hút thiên địch đến diệt trừ sâu hại cây trồng để giảm sử dụng thuốc BVTV, bảo vệ môi trường. Các mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái như: “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm” đã phát huy tác dụng tại các địa phương. Ngoài ra, Dự án nâng cấp đô thị tại ĐBSCL giai đoạn 2009 - 2020 với kinh phí trên 174.000 tỉ đồng do Ngân hàng thế giới tài trợ đang được triển khai tại các đô thị từ loại IV trở lên và TP Cần Thơ cũng được hưởng lợi từ dự án này. Mục tiêu của dự án là xây dựng các khu đô thị thích ứng với BĐKH và cải thiện đời sống cho người dân.
Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Khang, nói: “ĐBSCL có hệ thống sông ngòi chằng chịt, biến đổi dòng chảy đang diễn ra nhanh và ô nhiễm nghiêm trọng, nguy cơ bồi lấp, sạt lở rất cao. Nông dân nghèo là đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất từ những thực trạng này. Phát triển bền vững là yêu cầu tất yếu trong phát triển, nhưng làm thế nào để đạt yêu cầu này thì cần sự chung sức của các địa phương trong vùng trong việc liên kết, kiến nghị với Trung ương những quyết sách cần thiết cho ĐBSCL”. Sự chung sức của các địa phương ĐBSCL sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên đất, nước, rừng, biển... của vùng để ĐBSCL phát triển bền vững hơn.