06/08/2026 - 19:22

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 6-8, Quốc hội thảo luận ở tổ. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh phát biểu thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc

Thứ nhất, về tính khả thi trong áp dụng Mô hình thông tin công trình - BIM (Điều 12). Mô hình thông tin công trình (BIM - Building Information Modeling) là một quy trình tiên tiến dùng để tạo lập, quản lý và chia sẻ dữ liệu số về đặc điểm vật lý và chức năng của một công trình trong suốt vòng đời dự án, từ thiết kế, thi công đến vận hành. Việc bổ sung khoản 4a Điều 12 yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo và mô hình thông tin công trình (BIM) trong hồ sơ thiết kế kiến trúc là phù hợp với chủ trương chuyển đổi số quốc gia.

Tuy nhiên, có một số khó khăn khi ứng dụng công nghệ này cần phải cân nhắc, cụ thể là:

1) Chi phí bản quyền phần mềm BIM và thuê kỹ sư dựng mô hình 3D là rất tốn kém. Nếu áp dụng cứng nhắc quy định này cho mọi công trình (vì có có trình lớn và bé), ví dụ: công trình quy mô nhỏ hay tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, sẽ gây lãng phí nguồn lực, tạo gánh nặng chi phí tuân thủ bất hợp lý cho người dân, doanh nghiệp và thậm chí làm phát sinh chậm tiến độ.

2) Hơn nữa, cơ quan thẩm định tại địa phương cũng khó đảm bảo đủ hạ tầng máy chủ và nhân lực để đọc, lưu trữ các mô hình này.

Với những lý do nêu trên, đề nghị phân loại đối tượng bắt buộc và có lộ trình áp dụng tương xứng với năng lực công nghệ thực tiễn. Cụ thể là chỉnh lý khoản 4a theo hướng: Chỉ bắt buộc áp dụng đối với công trình cấp I, cấp đặc biệt và dự án sử dụng vốn đầu tư công; đối với các công trình khác chỉ mang tính khuyến khích.

Tại trang 24 và 25 của Báo cáo 408 nêu Chính phủ sẽ tiếp thu ý kiến thẩm tra, đồng ý chỉnh lý theo hướng việc áp dụng BIM phải “có lộ trình, đối tượng áp dụng... không đặt ra yêu cầu áp dụng BIM cứng nhắc, đồng loạt”. Thế nhưng, khi đọc Khoản 4a Điều 12 của Dự thảo Luật, cụm từ về lộ trình và phân loại đã hoàn toàn “biến mất”. Dự thảo vẫn quy định cứng: “phải áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM)”. Việc bắt buộc đồng loạt này sẽ gây lãng phí, tạo gánh nặng chi phí tuân thủ khổng lồ cho người dân và doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, công trình nhỏ. Đề nghị chỉnh lý ngay vào dự thảo luật cụm từ “phù hợp với quy mô, cấp công trình và có lộ trình do Chính phủ quy định”.

Thứ hai, về nguồn lực và năng lực phân cấp lập Quy chế quản lý kiến trúc (Điều 14). Khoản 4 Điều 14, Dự thảo Luật quy định phân cấp hoàn toàn cho UBND cấp xã tổ chức lập và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc trong địa bàn do mình quản lý. Đây là một chính sách phân quyền mạnh mẽ nhưng bộc lộ nhiều rủi ro về tính khả thi. Bởi vì, kiến trúc và quy hoạch là lĩnh vực chuyên môn sâu, đòi hỏi nguồn lực lớn để thuê đơn vị tư vấn khảo sát và lập bản vẽ. Hiện tại, hệ thống pháp luật về ngân sách không có danh mục chi độc lập cho UBND cấp xã trong công tác này, đồng thời nhân sự chuyên môn tại cơ sở còn rất mỏng và thiếu đồng đều. Vì vậy, việc phân cấp phải đi đôi với phân quyền và đảm bảo đủ nguồn lực thực hiện.

Do đó, đề nghị chỉnh lý theo hướng: Cấp xã tổ chức lập Quy chế quản lý kiến trúc, nhưng cơ quan chuyên môn cấp (tỉnh, thành phố phải thẩm định hoặc có ý kiến thống nhất) trước khi ban hành. Ngoài ra, cấp tỉnh cần ban hành “Khung quy chế mẫu” để cấp xã có cơ sở áp dụng thống nhất, tránh tình trạng ban hành tùy tiện phá vỡ định hướng quy hoạch và không gian kiến trúc liên xã.

Thứ ba, về thiết chế “Thi tuyển phương án kiến trúc” đối với công trình điểm nhấn (Điều 17). Khoản 3 Điều 17, Dự thảo Luật quy định bắt buộc thi tuyển đối với công trình mang tính biểu tượng, điểm nhấn đô thị. Tuy nhiên, khoản 5 lại trao quyền tùy nghi tổ chức thi tuyển đối với công trình không sử dụng vốn đầu tư công. Như vậy, ở đây đang có sự mâu thuẫn giữa quy định mang tính “bắt buộc” và “tùy nghi” ngay trong cùng một điều luật.

Sự thiếu đồng bộ này tạo ra rủi ro lách luật rất lớn. Ví dụ doanh nghiệp tư nhân xây dựng tổ hợp công trình điểm nhấn đô thị như tòa tháp hoặc công trình lớn tại địa phương, thì doanh nghiệp này hoàn toàn có thể vận dụng khoản 5 để không phải thi tuyển. Điều này làm phá vỡ định hướng quy hoạch, không gian kiến trúc đô thị chung và tạo sự bất bình đẳng giữa các chủ thể đầu tư.

Do đó, đề nghị Ban soạn thảo chỉnh lý Điều 17 theo nguyên tắc để mọi công trình mang tính biểu tượng, điểm nhấn đô thị (thuộc đối tượng tại khoản 3) bắt buộc phải thi tuyển kiến trúc để đảm bảo chất lượng kiến trúc cũng như quy hoạch.

Thứ tư, rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch: Cải cách hay rủi ro? (Điều 4). Điều 4 dự thảo Luật sửa đổi khoản 4 Điều 40 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, giảm thời gian thẩm định quy hoạch từ 30 ngày xuống còn tối đa 20 ngày.

Theo báo cao thì Chính phủ lý giải việc cắt giảm 10 ngày nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ dự án, và thừa nhận sẽ cần bổ sung đánh giá tác động về khả năng đáp ứng của cơ quan quản lý. Việc giảm 1/3 thời gian thẩm định là một nỗ lực. Tuy nhiên, quy hoạch kiến trúc là vấn đề phức tạp, định hình diện mạo đô thị hàng chục năm. Nếu chỉ cắt giảm cơ học để lấy “thành tích” thì lo sẽ ảnh đến chất lượng quy hoạch đi xuống.

Do đó, đề nghị, rút ngắn thời gian phải đi kèm với điều kiện về chuyển đổi số (ví dụ như áp dụng đồng bộ BIM/GIS) và phân loại rõ loại quy hoạch nào được rút ngắn; không nên áp dụng thời gian trên đối với đồ án phức tạp.

Chia sẻ bài viết