02/11/2010 - 07:57

KỲ HỌP THỨ 8, QUỐC HỘI KHÓA XII

Cần đánh giá lại việc quản lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

* Chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

(TTXVN)- Việc thua lỗ của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), quản lý các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước, tình trạng thiếu điện... được các đại biểu Quốc hội quan tâm và kiến nghị nhiều giải pháp trong cuộc thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tại hội trường sáng 1-11.

Phân tích những sai phạm, yếu kém trong quản lý kinh tế tại Tập đoàn Vinashin, các đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (Bình Dương), Phạm Thị Loan (Hà Nội), Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn), Lê Văn Cuông (Thanh Hóa) kiến nghị tại kỳ họp này Quốc hội cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ chủ quản, thủ trưởng các ngành chức năng có liên quan.

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị, các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm trách nhiệm trước Quốc hội - cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình, không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là xong trách nhiệm. “Nếu Quốc hội không làm rõ được điều này sẽ không hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, trước dân” - ông Thuyết nói.

Quan tâm đến “hậu” Vinashin, “tân” Vinashin, đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng đặt câu hỏi: Liệu còn Vinashin nào khác nữa trong số các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước?- Đại biểu đề nghị Quốc hội có một nghị quyết chuyên đề về các vấn đề này.

Từ bài học của Vinashin, các đại biểu đặt câu hỏi ngược lại cho vấn đề quản lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hiện nay. “Vụ việc Vinashin là giọt nước làm tràn ly, bộc lộ rõ trình độ quan liêu, yếu kém, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý vốn, tài sản nhà nước của Chính phủ, các bộ, ngành chức năng đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được xác định là những đầu tàu, quả đấm thép của nền kinh tế thị trường” - đại biểu Lê Văn Cuông nói.

Các đại biểu đề nghị Chính phủ và Quốc hội cho kiểm toán thanh tra toàn bộ hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước còn lại, nhất là Tập đoàn Điện lực để có cơ sở đánh giá mô hình này. Nếu thành công sẽ đề nghị Quốc hội sửa Luật để tạo hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế nhà nước. Chính phủ hàng năm báo cáo Quốc hội về thực trạng kinh doanh vốn nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn và tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.

Thiếu điện cùng với những bất hợp lý trong quy hoạch ngành thép, ngành xi măng là vấn đề được nhiều đại biểu đề cập trong buổi thảo luận.

Đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng), Huỳnh Ngọc Đáng, Phạm Thị Loan cho rằng mặc dù đã có nhiều cố gắng song trong công tác dự báo tình hình cung cấp điện còn nhiều yếu kém, quy hoạch thủy điện và chỉ đạo xử lý thiếu điện chưa tốt. Tình trạng thiếu điện kéo dài gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt, gây bức xúc cho người dân. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng chỉ rõ: Hơn 10 năm qua, năm nào cũng thiếu điện. Để xảy ra thiếu điện là cản trở đất nước hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển.

Làm rõ về vấn đề này, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết: Chưa bảo đảm cũng ứng điện trong thời gian vừa qua có một phần trách nhiệm của Bộ Công Thương. Năm 2010, đặc biệt trong trong mùa khô (từ tháng 5 đến tháng 7), tình hình cung ứng điện có nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân. Trước hết có trách nhiệm về mặt chỉ đạo. Đó là việc thực hiện tổng sơ đồ phát triển điện giai đoạn 6 (2006-2010) và có tầm nhìn đến 2015. Nếu thực hiện theo đúng giai đoạn 6, nước ta sẽ không xảy ra tình trạng thiếu điện như vừa rồi. Các kịch bản về tăng trưởng phụ tải điện đã dự báo trong tổng sơ đồ 6 cho đến nay vẫn thể hiện dự báo đúng đắn. Theo tính toán, từ 2006 đến 2015, bình quân tăng phụ tải điện từ 16-17% và trên thực tế, trong các năm qua (2007-2010) cũng tăng mức đó (15-16%). Năm 2010, dự báo là tăng 15,7%. Như vậy là dự báo về nhu cầu điện tương đối phù hợp với diễn biến nhưng trên thực tế việc huy động các nguồn điện vào sản xuất và cung ứng điện có chậm trễ. Chậm trễ này do nhiều lý do, trong đó có vấn đề thiếu vốn. Trong giai đoạn 2008-2009, đứng trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu, nước ta đã có một số giải pháp thắt chặt chi tiêu, trong đó có giải pháp hạn chế đầu tư. Vì vậy, một số công trình trong ngành điện trong giai đoạn 2008-2009 cũng rất khó khăn trong việc vay vốn, làm ảnh hưởng đến tiến độ đưa một số công trình điện vào huy động trong giai đoạn 2010 và một số năm sau. Trước tình hình đó, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương cũng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và một số nhà phát điện độc lập (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam) tham gia vào việc cung ứng điện. Chính phủ chỉ đạo trước hết để khắc phục tình trạng thiếu điện hiện nay cũng như trong các năm tới, giải pháp quyết liệt nhất là phải đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình nguồn điện theo Tổng sơ đồ 6 và sắp tới là tổng sơ đồ 7. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo Bộ Công Thương và các ngành phải nhanh chóng đưa những công trình nhiệt điện mới xây dựng đã đi vào hoạt động phải ổn định. Trong thời gian vừa qua, nước ta đã đưa một số nhà máy nhiệt điện chạy than vào hoạt động như Nhiệt điện Hải Phòng, Quảng Ninh, Cẩm Phả... các nhà máy này hoạt động chưa ổn định do những khiếm khuyết về mặt kỹ thuật. Chính phủ yêu cầu cuối 2010, đầu 2011 phải đưa các nhà máy này vào hoạt động ổn định. Trong năm 2009, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Đề án về tái cơ cấu ngành điện tuy nhiên do một số nội dung chưa đáp ứng được nhu cầu nên vừa qua Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành hoàn chỉnh Đề án này và từ nay đến cuối 2010 trình Chính phủ.

Báo cáo trước Quốc hội về tình hình quy hoạch xi măng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho biết: Quy hoạch ngành và lãnh thổ là 2 phạm trù khác nhau. Nói về quy hoạch ngành, nếu xét trong quan hệ cung - cầu xi măng, các dựa án xi măng trong nước thì hiện nay cung đang vượt cầu. Năm 2010, nước ta tiêu thụ khoảng 51,5 triệu tấn/năm, dự báo đến cuối năm sẽ có khoảng 55-56 triệu tấn/năm. Nhiệm vụ quan trọng nhất là mục tiêu bình ổn thị trường, cung - cầu nhất trí. Bộ Xây dựng xác định quy hoạch vật liệu trên các vùng nguyên liệu theo 6 vùng nguyên liệu xi măng, gắn với phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng. Thị trường xi măng nước ta có đặc điểm miền Bắc nguyên liệu dồi dào, cung lớn nhưng cầu thấp, miền Nam ngược lại. Khi làm quy hoạch xi măng cũng phải tính đến điều này để bảo đảm cân đối, hợp giữa các vùng miền và cân đối cung - cầu. Bộ Xây dựng dự báo trong những năm tới thị trường xi măng sẽ tiếp tục tăng. Hiện nay, các dự án xi măng đưa vào quy hoạch đang bảo đảm cung phù hợp với cầu. Bộ Xây dựng đang đề xuất với Chính phủ các biện pháp: Tăng cường tiêu thụ xi măng hơn nữa kể cả trong việc đưa xi măng vào các công trình giao thông, thủy lợi, quốc lộ. Việc này đang bàn với Bộ Giao thông - Vận tải. Thứ hai là tăng các dự án đầu tư vào vật liệu xây dựng không nung thay thế cho gạch, ngói, đất sét nung. Việc này không chỉ giải quyết vấn đề tiêu thụ xi măng còn môi trường, tiêu thụ năng lượng, đất đai... Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án này. Hiện nay, cả nước đang có 10 dự án xây dựng nhà máy sản xuất vật liệu không nung và 2 nhà máy đã đi vào sản xuất. Thứ ba là tính đến tăng cường xuất khẩu xi măng, trên cơ sở tính toán thị trường. Việc điều chỉnh quy hoạch cân đối cung - cầu xi măng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2005, Bộ Xây dựng chuẩn bị trình Thủ tướng Chính phủ để điều chỉnh, phê duyệt nhằm bảo đảm bình ổn xi măng trong cả nước.

w Chiều 1-11, các đại biểu Quốc hội tiếp tục thảo luận toàn thể tại hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Hai vấn đề được đặc biệt quan tâm là: đời sống nông dân và đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; tính bền vững, ổn định trong tăng trưởng kinh tế - xã hội. Quốc hội cũng đã nghe một số Bộ trưởng, Trưởng ngành làm rõ thêm một số nội dung các đại biểu quan tâm.

Nhấn mạnh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của đất nước, các đại biểu Nguyễn Văn Sơn (Tuyên Quang), Chu Lê Trinh (Lai Châu)... cho rằng đầu tư thỏa đáng cho khu vực này không chỉ đơn thuần giải quyết vấn đề tăng trưởng mà còn vì một mục tiêu lớn hơn rất nhiều là ổn định chính trị - xã hội. Tuy nhiên, nông dân, nông nghiệp, nông thôn vẫn chịu nhiều thiệt thòi, phải đứng trước nhiều thách thức, đầu tư chưa thực sự hấp dẫn, hạ tầng chưa có chuyển biến rõ nét, đặc biệt là giao thông. Theo đại biểu, đã có không ít định chế tín dụng phục vụ cho nông nghiệp nông thôn nhưng người dân vẫn ngày càng khó khăn hơn khi tiếp cận với các nguồn vốn vay phát triển kinh tế, có người phải vay tín dụng “đen” với lãi suất cắt cổ để đầu tư sản xuất, chữa bệnh, lo cho con em đi học... Nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia hỗ trợ cho nông nghiệp nông thôn bị phân tán nguồn lực. Đại biểu Nguyễn Văn Sơn đề nghị Chính phủ cần báo cáo rõ lộ trình đầu tư cho khu vực này bằng những con số cụ thể để có sự so sánh tương quan với các lĩnh vực khác một cách minh bạch, đặc biệt là về hạ tầng, giáo dục, y tế, chính sách tín dụng, khoa học công nghệ. Lộ trình đầu tư này phải được thực hiện hết sức nghiêm túc, căn cơ để những năm tiếp theo có hiệu quả rõ nét.

Các đại biểu đề nghị, Nhà nước cần khẩn trương giải quyết đủ đất sản xuất cho đồng bào; giải quyết hài hòa việc mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, phát triển thủy điện, thủy lợi giao thông với việc quy hoạch đảm bảo đủ đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới; rà soát tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để điều chỉnh thu hồi những diện tích sử dụng sai mục đích, sai vị trí... để đảm bảo quỹ đất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đại biểu Bùi Thị Hòa (Đắk Nông) cho rằng cần xây dựng một chính sách đồng bộ cho việc tổ chức lại sản xuất cho các buôn làng dân tộc thiểu số, trong đó cần có những cơ chế đặc thù để đồng bào tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, vốn vay phát triển sản xuất ở mức cao nhất, hướng dẫn người dân chuyển đổi vật nuôi cây trồng, áp dụng khoa học kỹ thuật. Nhà nước thiết lập mạng lưới cung tiêu để đảm bảo sản phẩm sản xuất ra được bán ở thị trường, đem lại thu nhập ổn định, phát triển dịch vụ. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động cũng cần được thúc đẩy từng bước theo hướng giảm việc làm nông nghiệp, tăng việc làm phi nông nghiệp bằng cách phát triển ngành nghề truyền thống; chú trọng đào tạo nghề, phát triển việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số; phát huy vai trò các doanh nghiệp trong đẩy mạnh liên kết sản xuất.

Liên quan đến những sai phạm ở Vinashin, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền cho biết: Báo cáo Chính phủ đã nêu rõ và đầy đủ các vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm, trong đó thừa nhận còn nhiều lúng túng trong xác định cơ chế quản lý khi giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tập đoàn, các tổng công ty nhưng cơ chế, thể chế, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán chưa tương xứng, kém hiệu quả, do đó chưa ngăn chặn kịp thời những yếu kém, vi phạm trong quản lý của tập đoàn để khắc phục...

Trước ý kiến của nhiều đại biểu cho rằng Chính phủ còn bao che, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền giải trình lý do vì sao qua 11 lần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát mà không phát hiện được, đó là trách nhiệm của nhiều cơ quan chức năng, không chỉ riêng của cơ quan thanh tra. Pháp luật đã quy định trách nhiệm của cơ quan khác nhau chịu sự điều chỉnh của các vi phạm pháp luật khác nhau, trong khi đó pháp luật cũng chưa quy định cơ quan nào phải thanh tra, kiểm tra giám sát toàn diện. Kiểm toán và Thanh tra của Chính phủ vì phải tránh chồng chéo nên chưa tiến hành thanh tra toàn diện. Đây chính là vấn đề mà Chính phủ đã kiểm điểm và một phần do lỗi của cơ chế. Do chưa phân định trách nhiệm rõ ràng nên rất nhiều cơ quan vào chỉ làm ở khía cạnh này, hoặc khía cạnh khác nên ngay trong sự phân định này khó có thể có cơ quan nào tiến hành thanh tra toàn diện ngay từ đầu. Qua hơn 11 lần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đều có phát hiện ra những vấn đề vi phạm của Vinashin về hoạt động sử dụng vốn, về tổ chức các công ty con, về đầu tư ra ngoài ngành không đúng với quy định của pháp luật. Có những cuộc thanh tra đã được báo cáo lên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã xem xét và yêu cầu tập đoàn chấn chỉnh kịp thời vấn đề mua sắm tài sản và đầu tư ra ngoài ngành, đáng tiếc là lãnh đạo Vinashin đã không chấp hành đúng. Nhà nước cũng chưa có cơ chế phúc tra lại việc chấp hành, đặc biệt là chế tài xử lý các vi phạm này, cũng không quy định cho cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, kiểm tra phải xử lý nên cũng không thể làm khác hơn được.

Trước câu hỏi Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm như thế nào, tại sao Thanh tra Chính phủ không kiểm tra, đánh giá được hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan tiến hành kiểm tra, giám sát, tại sao Thanh tra Chính phủ không tiến hành một cuộc thanh tra toàn diện, Thanh tra Chính phủ không kiên quyết..., ông Truyền giải trình: Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát là hoạt động khác nhau, chịu những quy định điều chỉnh khác nhau của pháp luật, chức năng của Thanh tra Chính phủ không thể kiểm soát đánh giá lại tất cả các hoạt động này được. Trong hoạt động thanh tra, pháp luật cũng quy định thanh tra ở mỗi cấp là do cơ quan hành chính cùng cấp lập ra, cơ quan hành chính có quyền giao nhiệm vụ, chấp thuận việc thanh tra đó và cơ quan cấp trên không có quyền kiểm tra, đánh giá lại hoặc sửa lại kết luận thanh tra của cấp dưới mà chỉ hướng dẫn nghiệp vụ và cho ý kiến khi cấp dưới có ý kiến khác nhau. Vì thế, Thanh tra Chính phủ khó có thể đánh giá hoạt động của thanh tra cấp dưới nếu thanh tra cấp dưới không báo cáo lên và không xin ý kiến, thanh tra cấp trên không thể cho ý kiến vào vấn đề này. Đây chính là bất cập trong Luật hiện nay, ông Truyền nhận định.

Với trách nhiệm của mình, Thanh tra Chính phủ đã chủ động nắm tình hình và phát hiện được nhiều dấu hiệu vi phạm của Vinashin và đã 3 lần đề xuất vấn đề thanh tra toàn diện, nhưng vì nhiều lý do khác nhau cho đến khi Ủy ban Kiểm tra vào xem xét, kết luận, Thanh tra Chính phủ vẫn chưa thực hiện. Vào giữa năm 2008, Thanh tra Chính phủ đã đề xuất vấn đề thanh tra toàn diện Vinashin, nhưng lúc đó Bộ Tài chính có hai cuộc thanh tra liên tiếp về quản lý vốn của Tập đoàn này mà theo quy định của Chính phủ mỗi đơn vị kinh tế chỉ thanh tra một lần trong năm, nếu đã có cơ quan này thanh tra thì cơ quan khác không làm nên Thanh tra Chính phủ đã lùi lại đến năm sau. Năm 2009, Thanh tra Chính phủ tiếp tục đề xuất thanh tra toàn diện Vinashin, Chính phủ đã duyệt kế hoạch thanh tra và đến tháng 3-2009, Chính phủ đã ra Nghị quyết giảm áp lực thanh tra cho các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước để các đơn vị này tập trung khắc phục khủng hoảng kinh tế. Chính phủ cũng yêu cầu cơ quan thanh tra điều chỉnh kế hoạch để hướng vào thúc đẩy các gói kích cầu... nên năm 2009, Thanh tra Chính phủ không thực hiện thanh tra ở Tập đoàn này. Đến năm 2010, trước tình hình cấp bách, Thanh tra Chính phủ đã tiếp tục đề nghị kế hoạch thanh tra toàn diện Vinashin và đã được Chính phủ phê duyệt. Đến tháng 1-2010, Ủy ban Kiểm tra Trung ương vào kiểm tra dấu hiệu vi phạm ở Tập đoàn, thực hiện nguyên tắc Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm thì Thanh tra Chính phủ chưa làm. Vì vậy Thanh tra Chính phủ phải chờ Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết thúc mới có thể tiếp tục làm theo sự chỉ đạo của Chính phủ...

Quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân như giá cả các mặt hàng thiết yếu, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, thiên tai lũ lụt, thiếu điện sinh hoạt, bạo lực học đường, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa các nhóm dân cư, các vùng miền, đại biểu Bùi Thị Hòa (Đắk Nông) và nhiều đại biểu cho rằng đây là những lo lắng, bức xúc trong xã hội, làm cho chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân chưa được cải thiện đáng kể. Đại biểu Mã Điền Cư (Quảng Ngãi) đề xuất: Nhà nước cần tiếp tục có chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo, sử dụng có hiệu quả đất nông lâm nghiệp, tiếp tục hỗ trợ bảo vệ rừng; tập trung bố trí nguồn lực cho thực hiện định canh định cư...

Chia sẻ bài viết