Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 5-8, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, đã có góp ý quan trọng cho dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Tại Khoản 1, Điều 5 dự thảo quy định Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hòa giải. Tuy nhiên, hòa giải ở cơ sở không chỉ là hoạt động được khuyến khích mà còn là một thiết chế phòng ngừa tranh chấp, giữ gìn đoàn kết cộng đồng. Do đó kiến nghị Nhà nước cần quan tâm thêm các chính sách: (1) Bảo đảm cho người dân được tiếp cận hòa giải được rộng rãi, thuận lợi, miễn phí; nhất là địa bàn khó khăn và người thuộc nhóm dễ bị tổn thương; (2) Đảm bảo điều kiện hoạt động cho tổ và hòa giải viên, thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ kinh phí; (3) Kết nối nhiệm vụ hòa giải ở cơ sở với trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật và các dịch vụ xã hội khác.
Tại Khoản 2, Điều 5 quy định Mặt trận “giữ vai trò nòng cốt” nhưng chưa xác định nội hàm. Dự thảo định hướng phù hợp, nhưng khái niệm “vai trò nòng cốt” của Mặt trận chưa được cụ thể hóa. Nếu không làm rõ nội hàm, dễ dẫn đến việc hành chính hóa hoạt động của Mặt trận và không rõ nhiệm vụ giữa các thành viên liên quan đến việc thành lập và hoạt động của tổ hòa giải cơ sở. Kiến nghị Ban soạn thảo rà soát thêm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc cấp cơ sở và Ban Công tác Mặt trận, không nên chỉ ghi chung là “nòng cốt”, mà phải chỉ rõ Mặt trận nòng cốt ở những nội dung nào. Cụ thể, diễn đạt lại khoản 2, Điều 5 thành: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia hòa giải; phát hiện, giới thiệu người có uy tín làm hòa giải viên; phối hợp xây dựng, củng cố tổ hòa giải; giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.”
Tại Khoản 4, Điều 5 về ứng dụng công nghệ thông tin. Dự thảo khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là quy định tiến bộ nhưng chưa đủ cụ thể. Hồ sơ hòa giải có thể chứa thông tin nhạy cảm về gia đình, tài sản, sức khỏe, trẻ em, đời tư, danh dự và các hành vi vi phạm. Trong khi đó, năng lực am hiểu và ứng dụng công nghệ thông tin của các thành viên trong tổ hòa giải thực tế vẫn còn 1 số hạn chế nhất định. Nếu khoản 4 chỉ diễn đạt: “Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, trang bị phương tiện kỹ thuật; bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và thông tin khác được pháp luật bảo vệ” thì vẫn còn chung chung, dễ áp dụng cảm tính theo cách hiểu của các thành viên. Đơn cử như việc tổ hòa giải tự lưu trữ qua điện thoại cá nhân, chuyển thông tin qua lại, không bảo mật, cẩn trọng thì nguy cơ lộ lọt thông tin rất lớn, ảnh hưởng tới các đối tượng hòa giải. Đề nghị dự thảo cần quy định cụ thể hơn về phạm vi ứng dụng công nghệ thông tin (về thông tin cần thu thập, thời hạn lưu trữ...), chủ thể thực hiện, cung cấp nền tảng, tài khoản hoặc công cụ bảo mật...
Tại điều 8, Bầu hòa giải viên. Thứ nhất, chưa có quy định xử lý xung đột lợi ích. Dự thảo chưa quy định trường hợp Trưởng ban Công tác Mặt trận là ứng cử viên hoặc có quan hệ lợi ích với ứng cử viên. Thứ hai, việc bỏ phiếu bằng ứng dụng công nghệ thông tin tại điểm c, khoản 2, Điều 8 chưa làm rõ: Cách xác định chủ thể tham gia biểu quyết là “đại diện hộ gia đình” như đã nêu tại điểm a,b khoản 2 hay hình thức khác; xác thực người bỏ phiếu như thế nào; phương thức lưu trữ, kiểm tra kết quả bỏ phiếu. Do đó kiến nghị: Trường hợp Trưởng ban Công tác Mặt trận là ứng cử viên hoặc có xung đột lợi ích thì một thành viên khác của Ban Công tác Mặt trận chủ trì; việc lấy ý kiến điện tử chỉ được thực hiện trên hệ thống có khả năng xác thực, bảo mật và phải có phương án thay thế cho người không sử dụng công nghệ; thời hạn công khai biên bản bầu tại khu dân cư.
Tại Điều 33, Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong toàn bộ dự thảo Luật, Mặt trận xuất hiện ở rất nhiều nơi. Cụ thể có 12/35 điều (chiếm 34,3%) tổng số điều. Trực tiếp đề cập đến vai trò, trách nhiệm hoặc sự tham gia của hệ thống mặt trận. Tuy nhiên, có 1 số nội dung chưa hoàn toàn phù hợp với chức năng của mặt trận. Đại biểu kiến nghị:
Một là, điều chỉnh chức năng “kiểm tra” phù hợp với chức năng của Mặt trận hiện nay theo Luật Mặt trận Tổ quốc và luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc, Luật Công đoàn và Luật Thực hiện dân chủ cơ sở. Mặt trận thực hiện giám sát, phản biện xã hội; không phải cơ quan quản lý nhà nước để “kiểm tra” hay phối hợp kiểm tra theo nghĩa hành chính đối với tổ hòa giải hoặc UBND. Do đó kiến nghị điều chỉnh chức năng tại Khoản 1, Điều 33 đối với cụm từ: “phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải cơ sở” thành “theo dõi, giám sát, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải cơ sở”.
Hai là, cần quy định về điều kiện bảo đảm cho ban Công tác mặt trận. Trong dự thảo, Ban Công tác Mặt trận được nhận định có vai trò nòng cốt, được giao nhiều nhiệm vụ trực tiếp nhưng không có quy định về: tài liệu, biểu mẫu, tập huấn, hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị, trách nhiệm bảo vệ người thực hiện nhiệm vụ. Do đó, kiến nghị trong dự thảo cần quy định rõ các nội dung trên, nhằm đảm bảo điều kiện và khả năng thực hiện nhiệm vụ cho đội ngũ.
Ba là, đề nghị bổ sung một khoản riêng về trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố tại Điều 33. Cụ thể: “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ Ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố trong việc giới thiệu, tổ chức bầu hòa giải viên; phối hợp củng cố tổ hòa giải; giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách đối với hòa giải viên; tổng hợp kiến nghị của cộng đồng dân cư để phản ánh với UBND cùng cấp”; “Ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia hòa giải; phát hiện, giới thiệu người có uy tín; phối hợp tổ chức bầu hòa giải viên; nắm tình hình hoạt động của tổ hòa giải và phản ánh nhu cầu hỗ trợ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã”.
P.V