21/04/2026 - 19:32

Bà Tô Ái Vang, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ:

Việc thúc đẩy giải ngân không chỉ là ở con số tài chính, mà là mệnh lệnh để kích hoạt toàn bộ hệ thống kinh tế trong bối cảnh cần những động lực tăng trưởng mới 

Chiều 21-4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Kế hoạch đầu tư công trung hạn; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024.

Bà Tô Ái Vang, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ tham gia đóng góp một số ý quan trọng.


Đại biểu Tô Ái Vang - Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, phát biểu

Theo bà Tô Ái Vang, Báo cáo 150 của Chính phủ đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2021-2025 và dự kiến Kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2026-2030, đã nhận định 8 nhóm tồn tại hạn chế. Qua tìm hiểu thực tế, đại biểu cho rằng đối với nhóm khó khăn trong giải phóng mặt bằng được xem là "khối u" kinh niên do sự khác biệt giữa giá đền bù và giá thị trường, cùng với việc xác định nguồn gốc đất phức tạp, để khởi công dự án.

Việc giải ngân vốn đầu tư công chậm trễ, nhiều dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư khi quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành chưa thống nhất. Khi bắt tay vào thực hiện, địa phương mất nhiều thời gian để điều chỉnh quy hoạch, khiến dự án bị dậm chân ngay từ khâu chuẩn bị. Việc khảo sát địa chất, thủy văn và nhu cầu thực tế thường được làm gấp rút để nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ. Đến khi triển khai thực tế, dự toán bị vỡ, do địa chất thay đổi buộc phải thiết kế lại, dẫn đến đội vốn và chậm tiến độ.

Vấn đề thiếu hụt cát, đá và sự biến động giá vật liệu xây dựng đang là một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất cho các dự án đầu tư công trung hạn 2026-2030, đặc biệt tại khu vực ĐBSCL với đặc thù nền đất yếu và địa hình chia cắt.

Theo kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, giai đoạn 2026-2030, đăng ký vốn đầu tư công trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2026-2030 là 8,22 triệu tỉ đồng. Để dòng vốn được phát huy hiệu quả, bên cạnh 4 nhóm giải pháp thực hiện của Chính phủ, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang có 4 kiến nghị bổ sung:

Thứ nhất, thực hiện cam kết trách nhiệm, nếu vướng ở đâu, thì ở đó có trách nhiệm tháo gỡ, kể cả Chính phủ và Quốc hội có sự đồng hành.

Bởi vì khi thực hiện phân cấp, phân quyền, phân trách nhiệm thì địa phương quyết, địa phương làm và địa phương phải chịu trách nhiệm thuộc phạm vi, chức trách được giao.

Khi vướng ở nghị định, thông tư thì cơ quan ban hành đó phải chịu trách nhiệm sửa đổi, tháo gỡ ngay, không được né tránh. Bộ, ngành lắng nghe và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho địa phương. 

Cùng với đó, Chính phủ đóng vai trò hoàn thiện hành lang pháp lý, nếu vướng mắc mang tính hệ thống, Chính phủ phải chịu trách nhiệm kiến nghị Quốc hội tháo gỡ, kể cả việc điều chỉnh quy định hoặc đề xuất, cho phép thực hiện cơ chế đặc thù, khơi thông cho các công trình dự án tồn đọng, góp phần giảm thiểu lãng phí và gây thất thoát

Thứ hai, Chính phủ thành lập Tổ công tác đặc biệt, tập trung vào các dự án lớn, tạo đòn bẩy cho vùng và liên kết vùng. 

Các Tổ công tác đặc biệt này có đủ thẩm quyền, trực tiếp xuống hiện trường dự án, có thực địa thì Tổ công tác mới hiểu hết khó khăn của thực tế đặt ra để có giải pháp tháo gỡ ngay, thay vì chờ văn bản báo cáo.

Đồng thời tổ chức hội nghị trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương làm tốt và địa phương còn gặp khó khăn.

Thứ ba, yêu cầu các địa phương cập nhật tiến độ chuẩn bị đầu tư lên hệ thống giám sát trực tuyến quốc gia để Chính phủ điều hành linh hoạt.

Thay đổi phương thức lập kế hoạch trung hạn, thay vì chỉ dựa trên danh mục đăng ký, Chính phủ nên ưu tiên bố trí vốn cho những địa phương có tỷ lệ "dự án sẵn sàng cao".

Bởi vì, giai đoạn "chuẩn bị" chiếm 30% thời gian nhưng quyết định đến 70% thành công của dự án. Nếu Chính phủ không quyết liệt chuẩn hóa khâu này, đầu tư công vẫn sẽ là bài toán "vốn chờ dự án" thay vì "dự án chờ vốn".

Thứ tư, sau các đợt thí điểm thành công giai đoạn 2021-2025, cần chuẩn hóa quy trình kỹ thuật để sử dụng đại trà cát biển cho san lấp cao tốc (đối với các đoạn không ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp).

Tại các khu vực có địa chất quá yếu ở ĐBSCL, việc chuyển từ đắp nền bằng cát sang xây dựng cầu cạn, tuy chi phí đầu tư ban đầu cao hơn nhưng sẽ giảm áp lực nhu cầu cát khoảng 30-50%, đồng thời tăng độ bền và khả năng thoát lũ.

Thiết lập hệ thống dữ liệu số về trữ lượng cát, đá toàn vùng để điều phối linh hoạt giữa các tỉnh theo nguyên tắc ưu tiên dự án trọng điểm quốc gia trước. Giá cát tại chân công trình hiện có xu hướng tăng mạnh (có lúc tăng 40%), vì thế các địa phương phải công bố chỉ số giá vật liệu hằng tháng sát với thực tế thị trường để nhà thầu có cơ sở điều chỉnh hợp đồng. Áp dụng hợp đồng có hệ số điều chỉnh giá, các hợp đồng đầu tư công cần có điều khoản bù giá rõ ràng, minh bạch dựa trên biến động thực tế của chỉ số giá vật liệu xây dựng.

Việc thúc đẩy giải ngân không chỉ là ở con số tài chính, mà là mệnh lệnh để kích hoạt toàn bộ hệ thống kinh tế trong bối cảnh cần những động lực tăng trưởng mới.

Chia sẻ bài viết