Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự (BLDS), hộ gia đình (HGĐ) mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Tài sản chung của HGĐ gồm quyền sử dụng đất (QSDĐ), quyền sử dụng rừng, rừng trồng của HGĐ, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ. Về định đoạt tài sản là QSDĐ của HGĐ, tại khoản 2, Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP (ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai) quy định hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại QSDĐ; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho QSDĐ; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ thuộc quyền sử dụng chung của HGĐ phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong HGĐ đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự...
Như vậy, chủ hộ của HGĐ trong BLDS khác với chủ hộ trong sổ hộ khẩu (SHK) được quy định tại Luật Cư trú. Chủ hộ của HGĐ có thể đồng thời hoặc không đồng thời là chủ hộ trong SHK. Vì thế, chủ hộ trong SHK không thể đương nhiên dùng tư cách chủ hộ của HGĐ, để thực hiện các giao dịch dân sự cho cả hộ (trừ trường hợp được cả hộ ủy quyền). Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, nếu có bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến HGĐ, cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân luôn yêu cầu người đại diện phải là chủ hộ trong SHK. Thực tế trên đã và đang làm các giao dịch dân sự liên quan đến HGĐ bị hiểu và thực hiện lệch lạc, so với quy định pháp luật.
Giữa những quy định về HGĐ trong BLDS và SHK trong Luật Cư trú chưa đồng nhất và chưa có hướng dẫn rõ ràng. Nếu không căn cứ vào SHK thì không có cơ sở nào để xác định các thành viên sử dụng đất; còn nếu căn cứ vào SHK để xác định chủ sử dụng đất sẽ dẫn đến những bất cập khi người sử dụng đất có nhu cầu giao dịch thửa đất đó. Cụ thể: Người đứng tên chủ hộ trong giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng không phải là chủ HGĐ trong SHK gia đình; việc tách nhập, thay đổi SHK, nhân khẩu trong thời gian sử dụng đất thì rất khó xác định được chính xác ai là thành viên của HGĐ làm chủ thể hợp pháp khi tham gia giao dịch.
Việc xác định số lượng thành viên, tư cách thành viên trong HGĐ sử dụng đất là rất quan trọng. Bởi, từ đó xác định được các quyền sở hữu khối tài sản chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong giao dịch. Vì vậy, để giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức hành nghề công chứng, người dân... có căn cứ pháp lý thực hiện các hợp đồng về QSDĐ của HGĐ, Nhà nước cần có quy định và hướng dẫn cụ thể về QSDĐ thuộc quyền sử dụng chung của HGĐ.
THANH TRẦN