* Báo cáo của Chính phủ về quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội
Tiếp tục Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, sáng 2-6, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân đã trình bày trước Quốc hội Báo cáo của Chính phủ về Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đó, tầm nhìn xây dựng Thủ đô Hà Nội là thành phố Xanh -Văn hiến -Văn minh -Hiện đại, có 10 chiến lược được thực hiện, trong đó quan trọng nhất là tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về Thủ đô bằng cách thiết lập các trục không gian “mặt nước”, “cây xanh” và “văn hóa”, phấn đấu tối thiểu 70% diện tích mở rộng của thành phố dành cho không gian mở. Theo phân bổ không gian, Thủ đô Hà Nội sẽ được xây dựng theo mô hình đô thị trung tâm hạt nhân kết nối với 5 đô thị vệ tinh và các thị trấn khác thuộc khu vực nông thôn. Đô thị trung tâm hạt nhân được giới hạn từ Nam sông Hồng đến đường vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng có khu vực Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm -Yên Viên và Long Biên. Đô thị vệ tinh gồm: Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên -Phú Minh và Sóc Sơn.
Các trục hướng tâm của thành phố gồm các trục không gian hướng Đông Tây; Bắc Nam và các trục cảnh quan dọc các sông lớn. Trục hướng Đông Tây có trục Thăng Long, trục quốc lộ 32, trục Láng - Hòa Lạc, trục quốc lộ 6. Các trục không gian Bắc Nam có trục quốc lộ 3, trục quốc lộ 1A, quốc lộ 1 mới, trục Nhật Tân -Nội Bài. Trục không gian Đông Bắc có trục quốc lộ 5 nối đường Nguyễn Văn Cừ qua trung tâm quận Long Biên... sẽ hình thành các cụm tổ hợp công trình phục vụ công cộng, văn phòng theo hướng kiến trúc hiện đại, tạo điểm nhấn đô thị.
Báo cáo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 của Chính phủ trình Quốc hội khẳng định rõ, vị trí trung tâm chính trị quốc gia vẫn được xác định tại quận Ba Đình. Trụ sở các Bộ, ngành tập trung tại 4 quận nội thành Hà Nội cũ hiện không đáp ứng được nhu cầu nên một số bộ, ngành đã và đang xây dựng trụ sở tại Mễ Trì - Mỹ Đình, Chính phủ đang chỉ đạo tiếp tục quy hoạch chọn địa điểm để đưa một số bộ, ngành nữa ra ngoài khu vực nội đô. Quy hoạch này cũng đã dành khu đất dự trữ tại Ba Vì để trong tương lai, sau năm 2050 xây dựng các cơ quan Chính phủ. Quy hoạch cũng định hướng phát triển nhà ở của Thủ đô tại các khu đô thị mới hoặc đô thị vệ tinh, xây dựng nhà ở đạt tiêu chuẩn quốc gia và tiến tới hoàn thiện theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng các mức thu nhập của người dân, giảm tải trực tiếp cho đô thị trung tâm. Quy hoạch cũng thiết lập các hạng mục cho giao thông nội đô với việc xây dựng mới 8 tuyến đường sắt đô thị, kéo dài kết nối với các đô thị vệ tinh; quy hoạch hệ thống bãi đỗ xe ngầm tại các công viên, vườn hoa, xây dựng các gara cao tầng trong các tổ hợp công trình quy mô lớn.
Cũng theo báo cáo này, tổng kinh phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung từ 2010 - 2030 của Thủ đô (gồm các hạng mục hệ thống giao thông, cấp thoát nước, điện, khu xử lý chất thải, nhà hỏa táng, nghĩa trang...) ước khoảng 60 tỉ USD, trong đó giao thông là 33,3 tỉ USD. Trong phân kỳ thực hiện, từ 2010 - 2020, ưu tiên xây dựng và hoàn thiện các tuyến vành đai 3,4, tuyến Láng - Hòa Lạc, quốc lộ 32, tuyến Nhật Tân - Nội Bài, Thăng Long-Nội Bài... xây dựng mạng lưới giao thông công cộng... Theo quy hoạch của Chính phủ, đối với 750 đồ án, dự án trên địa bàn Hà Nội nếu phù hợp với Quy hoạch chung sẽ tiếp tục thực hiện nhưng cần rà soát để đảm bảo khớp nối hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Những đồ án, dự án không phù hợp sẽ được chuyển đổi chức năng sử dụng đất. Những đồ án, dự án nằm trong khu vực không được phép xây dựng, hạn chế xây dựng như khu vực vành đai xanh sông Nhuệ sẽ có biện pháp chuyển đổi chức năng sử dụng đất hoặc di dời đến vị trí khác.
Cũng trong sáng 2-6, Quốc hội đã nghe Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội Nguyễn Văn Thuận trình bày Tờ trình về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011. Theo đó, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2011 gồm 22 dự án luật, 2 dự thảo Nghị quyết thuộc chương trình chính thức (thông qua 12 dự án luật, 2 dự thảo nghị quyết, cho ý kiến 10 dự án luật); cho ý kiến 12 dự án luật, 1 dự thảo nghị quyết thuộc chương trình chuẩn bị.
* Chiều 2-6, thảo luận tại tổ về Dự án Luật Khoáng sản (sửa đổi), nhiều đại biểu đặc biệt quan tâm tới những quy định về quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có tài nguyên khoáng sản được khai thác.
Các đại biểu đều nhất trí với thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, thực tế hiện nay ở những địa phương có khoáng sản được khai thác, môi trường bị ô nhiễm, cơ sở hạ tầng giao thông bị xuống cấp, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Các nguồn thu từ hoạt động khai thác khoáng sản được cân đối theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước nên không có khoản kinh phí riêng hỗ trợ cho địa phương nơi có khoáng sản; phí môi trường thu từ hoạt động khai thác khoáng sản còn thấp. Tuy nhiên, những quy định tại dự thảo về vấn đề này còn chung chung, thiếu tính khả thi. Vì vậy, cần thiết có quy định phân chia, điều tiết nguồn thu từ hoạt động khoáng sản để đầu tư trở lại cho địa phương nơi có khoáng sản được khai thác như quy định của dự thảo Luật.
Một nội dung được nhiều đại biểu góp ý là những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản thời gian qua, nhất là việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản chưa hợp lý như phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, công tác tổ chức lập, thực hiện quy hoạch khoáng sản... dẫn đến việc hoạt động khoáng sản còn phức tạp ở nhiều địa phương, nạn khai thác, tiêu thụ khoáng sản trái phép, xuất khẩu khoáng sản thô vẫn diễn ra ở nhiều nơi làm thất thoát nhiều tài nguyên khoáng sản. Các đại biểu đồng tình, do chưa có quy định chặt chẽ về điều kiện cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, điều kiện chuyển nhượng quyền hoạt động khoáng sản nên chưa xóa bỏ được cơ chế “xin- cho”, chưa ngăn chặn được tình trạng đầu cơ trong hoạt động khoáng sản; thiếu các quy định để tăng thu cho ngân sách nhà nước. Đại biểu Phương Thị Thanh (Bắc Kạn) cho rằng, nguồn thu của Nhà nước từ khai thác khoáng sản hiện không đáng là bao, mới chỉ từ các nguồn: thuế tài nguyên, phí môi trường, thuế thu nhập doanh nghiệp. Còn theo đại biểu Bế Xuân Trường (Bắc Kạn), nhiều khâu trong quản lý khai thác khoáng sản dễ bị lợi dụng lách luật nếu không quy định chặt chẽ, nhất là cấp giấy phép thăm dò. Cần cấm tuyệt đối việc lợi dụng thăm dò chuyển thành khai thác. Liên quan đến vấn đề này, nhiều đại biểu cho rằng, quy định “thời hạn của một giấy phép thăm dò khoáng sản tối đa không quá 48 tháng” là quá dài, “đến khi hết hạn có thể chẳng còn gì mà khai thác nữa”. Một số đại biểu đề nghị nên phân loại khoáng sản để xác định thời hạn cho phù hợp và có cần thiết phải thăm dò hay không. Chẳng hạn, khai thác vật liệu xây dựng như cát, sỏi... số lượng không nhiều, nếu cứ máy móc phải có thăm dò sẽ gây phiền hà cho các tổ chức, cá nhân khi xin phép thăm dò, khai thác khoáng sản. Một số khác cho rằng, quy định khoáng sản “thuộc sở hữu toàn dân” dễ kéo theo những rắc rối, không minh bạch khi xác định quyền sử dụng, gây khó cho quá trình quản lý của Nhà nước. Cần khẳng định tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia, do Nhà nước sở hữu và quản lý.
QUANG VŨ-THANH HÒA (TTXVN)