12/08/2026 - 15:56

Phát huy tiềm năng, thế mạnh để con cá rô phi “xuất ngoại” 

TP Cần Thơ cũng như nhiều địa phương vùng ĐBSCL có điều kiện thuận lợi nuôi trồng thủy sản. Dự án đối tác chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ - Việt Nam (FAST-V) là một sáng kiến phát triển nuôi trồng thủy sản (cụ thể là cá rô phi) với mục tiêu xây dựng chuỗi giá trị nuôi trồng hiện đại, đưa cá rô phi trở thành đối tượng xuất khẩu đạt tỉ USD trong tương lai.

Cơ hội phát triển

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển ngành hàng thủy sản, chỉ riêng cá rô phi, giai đoạn 2015-2025, sản lượng nuôi tăng từ 188.000 tấn lên 420.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt khoảng 99 triệu USD. Hiện cả nước có 303 cơ sở sản xuất giống, 178 cơ sở ương dưỡng, 77 nhà máy sản xuất thức ăn và khoảng 510 cơ sở chế biến đủ điều kiện xuất khẩu, tạo nền tảng thuận lợi để phát triển ngành hàng theo hướng hiện đại và quy mô lớn.

Mô hình nuôi cá rô phi ứng dụng công nghệ cao phát triển tại TP Cần Thơ.

TP Cần Thơ có nhiều dư địa phát triển ngành hàng nuôi và xuất khẩu cá rô phi. Tính đến cuối năm 2025, toàn thành phố đã thả nuôi 604ha cá rô phi, diện tích tiềm năng có thể lên tới 96.500ha. Nếu nuôi theo mô hình thâm canh, năng suất cá rô phi bình quân là 35 tấn/ha, nuôi lồng bè đạt 7-8 tấn/bè. Mỗi năm, TP Cần Thơ cung ứng trên 30 triệu con giống cá rô phi, đáp ứng khoảng 60% nhu cầu của địa phương, còn lại chủ yếu nhập từ các tỉnh Đồng Tháp, An Giang...

Ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết: “Qua khảo sát thực tế tại nhiều địa phương và các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất giống, các viện nghiên cứu và chuyên gia, cho thấy ngành hàng cá rô phi vẫn còn nhiều điểm nghẽn lớn cần tập trung tháo gỡ. Đó là chưa chủ động được nguồn giống chất lượng cao, năng lực sản xuất mới đáp ứng 20-30% nhu cầu, hệ thống giống ba cấp chưa đồng bộ; sản xuất còn phân tán, chưa hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu, liên kết chuỗi còn lỏng lẻo; mức độ ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm; chưa có định hướng phát triển tổng thể và cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy phát triển đồng bộ toàn chuỗi giá trị, từ giống, thức ăn, nuôi thương phẩm đến chế biến và thị trường…”.

Cũng theo ông Nhữ Văn Cẩn, nếu các địa phương không sớm tháo gỡ những điểm nghẽn này, ngành hàng cá rô phi sẽ khó phát huy hết tiềm năng để trở thành ngành hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Kỳ vọng từ Dự án FAST-V

Trước hạn chế trên, Dự án FAST-V có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành hàng cá rô phi. FAST-V do Cục Thủy sản và Kiểm ngư làm chủ dự án; Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ thông qua Chương trình thực phẩm vì sự tiến bộ; tổ chức Lutheran World Relief (LWR) là đơn vị quản lý và điều phối nguồn viện trợ. Dự án được thực hiện tại các địa phương sản xuất cá rô phi trọng điểm thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL như Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau. Thời gian thực hiện 5 năm (2026-2030), tổng vốn dự kiến 15,6 triệu USD, bao gồm nguồn vốn ODA không hoàn lại của USDA và các nguồn vốn đối ứng, đóng góp của các đối tác tham gia thực hiện dự án.

FAST-V áp dụng cách tiếp cận phát triển chuỗi giá trị kết hợp với phát triển hệ thống thị trường nhằm giải quyết các điểm nghẽn của ngành hàng. Các hoạt động của dự án gồm hợp phần phát triển hệ thống giống và thức ăn chất lượng cao; hợp phần xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo và mở rộng sản xuất; tăng cường hợp tác, tổ chức ngành hàng và liên kết chuỗi; cải thiện khả năng tiếp cận tài chính; hỗ trợ đổi mới công nghệ và đầu tư hiện vật có mục tiêu; phát triển thị trường, truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu.

Thông qua các hợp phần này, dự án đồng thời hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo, phát triển tổ chức ngành hàng, thúc đẩy hợp tác công - tư và mở rộng thị trường tiêu thụ. Dự kiến, FAST-V mang lại lợi ích trực tiếp cho hơn 25.000 người và lợi ích gián tiếp cho trên 160.000 người, tạo cơ hội tham gia và hưởng lợi cho toàn bộ các tác nhân trong chuỗi giá trị. Sau 5 năm, dự án hướng tới kết quả: Hệ thống giống và đầu vào chất lượng cao được tăng cường; công nghệ và thực hành nuôi tiên tiến được nhân rộng; liên kết chuỗi giá trị và tổ chức ngành hàng được củng cố; khả năng tiếp cận tài chính của người nuôi và doanh nghiệp được cải thiện; công nghệ, trang thiết bị và năng lực sản xuất được nâng cấp; thị trường trong nước và xuất khẩu được mở rộng, đặc biệt tại thị trường Hoa Kỳ…

Ông Nhữ Văn Cẩn nhấn mạnh: “FAST-V không chỉ là một dự án hợp tác quốc tế, mà hướng tới hình thành mô hình hợp tác công - tư trong phát triển chuỗi giá trị cá rô phi. Dự án sẽ kết nối cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, người nuôi và các đối tác quốc tế, nhằm nâng cao chất lượng giống, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, tăng cường liên kết chuỗi, phát triển chế biến và thị trường, qua đó xây dựng hệ sinh thái hợp tác bền vững và có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước”.

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết