Trước năm 1992, những hoạt động phòng chống các rối loạn do thiếu hụt i-ốt tập trung ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Năm 1992-1993, điều tra diện rộng cấp quốc gia của Bệnh viện Nội tiết cho thấy có đến 94% dân số Việt Nam nằm trong vùng thiếu i-ốt. Điều này có nghĩa là thiếu hụt i-ốt không chỉ có ở vùng miền núi mà cả ở vùng đồng bằng, thành thị, ven biển.
Trước thực trạng đó, năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Dự án mục tiêu quốc gia phòng chống bướu cổ. Từ đó, độ phủ muối i-ốt (% hộ gia đình sử dụng) tăng lên. Năm 2000, cả nước có 70 xí nghiệp sản xuất muối i-ốt, đảm bảo cung cấp đủ muối i-ốt cho toàn dân. Từ năm 1994 đến năm 2006, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối i-ốt, mức thu nhận i-ốt (i-ốt niệu trung vị) tăng dần và tỷ lệ trẻ em bị bướu cổ giảm dần. Đây là dấu hiệu đáng mừng nhưng xét về mức độ khu vực thì thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ tiến bộ chậm hơn cả nước.
 |
|
Chọn mua muối i-ốt để sử dụng trong gia đình. |
Nhu cầu của cơ thể đối với I-ốt chỉ là một lượng rất nhỏ nhưng đều đặn mỗi ngày. I-ốt cần thiết cho sự tổng hợp hóc-môn tuyến giáp. Bướu cổ và đần độn là hai biểu hiện thường gặp nhất nếu thiếu i-ốt. Bướu cổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc đời, còn đần độn xuất hiện ngay từ bào thai nếu người mẹ thiếu i-ốt nặng (i-ốt niệu trung vị dưới 20 micrôgam/ lít). Khi mang thai, nhu cầu i-ốt của phụ nữ tăng lên vì phải đáp ứng cả nhu cầu i-ốt cho sự phát triển của bào thai. Nếu thiếu i-ốt, sự phát triển của bào thai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là bộ não. Vì vậy, trẻ em và thai phụ là các đối tượng cần quan tâm đặc biệt, không để tình trạng thiếu hụt i-ốt kéo dài.
Sau năm 2006, hoạt động phòng chống bướu cổ không còn thuộc Dự án mục tiêu mà chuyển thành hoạt động thường qui của ngành y tế, nguồn kinh phí bị cắt giảm. Số liệu thống kê của Bệnh viện Nội tiết cho thấy, sau 2 năm kết thúc Dự án mục tiêu quốc gia, tình hình thiếu hụt i-ốt có xu hướng quay trở lại và trở nên nghiêm trọng ở khu vực miền Đông, miền Tây Nam bộ, trong đó có thành phố Cần Thơ. Mức i-ốt niệu của phụ nữ ở tuổi sinh đẻ thấp hơn mức i-ốt niệu chung ở các đối tượng điều tra.
Tình trạng trên có thể do một số nguyên nhân:
+ Chủ quan: do không được tuyên truyền, cảnh báo các nguy cơ nên nhiều người cho rằng thiếu i-ốt thì không có gì đáng ngại.
+ Thói quen: người dân quen dùng muối cục, mặc dù muối cục rẻ hơn muối i-ốt chẳng bao nhiêu. Người miền Tây lại ít ăn cá biển, rau câu (rong biển); trong khi đây là những thức ăn có nhiều i-ốt. Về cảm quan, vị giác, nhiều người cho rằng màu sắc muối i-ốt không tươi, không sáng trắng bằng muối bọt tinh, muối i-ốt có vị mặn hơn muối thường nên ngại dùng.
+ Bảo quản và sử dụng muối i-ốt không đúng cách: i-ốt là chất dễ bay hơi, nếu để trong lọ hở và gần bếp lửa thì sẽ làm i-ốt bốc hơi nhanh chóng. Khi nêm nếm thức ăn đang nấu, nếu cho muối i-ốt vào sớm quá sẽ làm i-ốt bay hơi đi một phần.
+ Thói quen sử dụng sản phẩm nêm mặn khác: bột nêm, nước mắm, nước tương... để nêm, chấm mà những sản phẩm này không được bổ sung i-ốt.
Để khắc phục tình trạng thiếu hụt i-ốt, nên dùng muối i-ốt thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày. Hiện nay, muối i-ốt có bán ở các tiệm tạp hóa khắp nơi, giá cả chỉ đắt hơn một chút so với muối thường. Các bếp ăn tập thể nên chỉ dùng muối i-ốt. Bảo quản, sử dụng muối i-ốt đúng cách: đựng trong hộp đậy nắp, để xa nguồn nhiệt; thức ăn sôi, nhắc xuống mới nêm muối vào.
Bs. DƯƠNG PHƯỚC LONG
(Trung tâm Y tế dự phòng TP. Cần Thơ)