08/10/2026 - 04:53

Ứng phó phòng vệ thương mại: Từ “chữa cháy” bị động đến lập “lá chắn” dữ liệu 

 

Theo Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), tính đến giữa tháng 9-2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại (PVTM) từ 27 thị trường. Trước làn sóng điều tra phòng vệ thương mại ngày càng siết chặt, việc thiếu hụt dữ liệu canh tác và chứng từ vùng trồng đang khiến nông sản ĐBSCL chịu nhiều thua thiệt.

Báo và Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long (VCCI ĐBSCL) xoay quanh vấn đề trên.

 

* ĐBSCL là vùng sản xuất nông - thủy sản trọng điểm của cả nước. Các vụ việc điều tra PVTM từ các thị trường xuất khẩu đang có xu hướng dịch chuyển mạnh sang nông sản và siết chặt truy xuất nguồn gốc đến khâu nguyên liệu. Mức độ rủi ro này đe dọa chuỗi giá trị nông sản ĐBSCL ra sao, thưa bà?

- Những năm gần đây, PVTM không chỉ tập trung vào các ngành công nghiệp mà đã mở rộng sang nhóm nông, lâm, thủy sản với các vụ kiện ngày càng tăng và phức tạp. Với ĐBSCL, nơi đóng góp tỷ trọng lớn trong xuất khẩu nông thủy sản của cả nước - đây là vấn đề rất đáng quan tâm và cần được chuẩn bị sớm, bài bản.

Theo tôi, áp lực hiện nay không chỉ nằm ở thuế quan, mà còn đặt ra nhiều yêu cầu khác như tiêu chuẩn xanh, minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc đến tận vùng trồng, vùng nuôi, cùng các rào cản kỹ thuật khác. Trong một vụ việc điều tra PVTM, doanh nghiệp thường phải cung cấp nhiều dữ liệu chứng minh tính hợp lý, hợp lệ, phù hợp với quy định quốc tế trong thời gian rất ngắn. Phần lớn dữ liệu này lại gắn với các khâu từ nuôi trồng (vùng nguyên liệu), thu mua đến chế biến, trong khi chuỗi liên kết nông sản của vùng nhìn chung vẫn còn nhỏ lẻ, chưa thật sự liền mạch.

Vì vậy, nếu chưa có sự chuẩn bị, chưa tổ chức được dữ liệu một cách bài bản, khoa học, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi đáp ứng các yêu cầu của cơ quan điều tra, dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng đến thị trường và đầu ra của cả ngành hàng, từ đó tác động trực tiếp đến thu nhập của bà con nông dân. Tôi nghĩ, đây là lời nhắc nhẹ nhàng nhưng rất quan trọng. Hiểu biết về PVTM, nâng cao năng lực quản lý và tổ chức dữ liệu, đi từ tuân thủ đến chủ động cạnh tranh đã trở thành nhu cầu thiết thực. Đó cũng là cách để doanh nghiệp hạn chế rủi ro và cùng giữ vững chuỗi giá trị nông sản của vùng một cách bền vững.

Chuẩn hóa dữ liệu vùng nguyên liệu là “tấm khiên” bảo vệ trực tiếp thu nhập của người nông dân. Trong ảnh: Trồng xoài VietGAP tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Bến Bà Chi (tỉnh An Giang). Ảnh: THANH LONG

* Như vậy, trong PVTM, yếu tố then chốt là phải chứng minh được dữ liệu minh bạch và chi phí đầu vào chuẩn hóa. Sự thiếu liên kết và lỗ hổng dữ liệu này khiến nông sản ĐBSCL thua thiệt như thế nào trên thị trường quốc tế, thưa bà?

- Trong các vụ việc điều tra PVTM (chống bán phá giá, chống trợ cấp hay chống lẩn tránh thuế), cơ quan điều tra nước ngoài thường rất chú trọng thẩm tra tính xác thực của dữ liệu (dữ liệu kế toán, chi phí theo từng nhóm sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ…)

Ở ĐBSCL, phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tác nhân đầu chuỗi chủ yếu là nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp quy mô nhỏ, đồng nghĩa với nguồn lực và kinh nghiệm quản trị dữ liệu còn hạn chế. Ở khâu sản xuất, mô hình nhỏ lẻ, một số sản phẩm phải giao dịch qua trung gian chưa phải lúc nào cũng có hóa đơn, chứng từ, đặc biệt việc ghi chép nhật ký canh tác chưa được thực hiện một cách bài bản và thường xuyên, nên việc tổ chức lưu giữ dữ liệu gốc còn nhiều khó khăn.

Khi cơ quan điều tra thẩm tra, nếu chưa đối chiếu được đầy đủ dữ liệu từ vùng nguyên liệu, họ có thể áp dụng cơ chế “số liệu sẵn có”, thường dẫn đến mức thuế cao hơn thực tế. Điều đáng tiếc là nhiều doanh nghiệp và nông dân sản xuất hoàn toàn đúng quy định, nhưng chưa có đủ hồ sơ để chứng minh điều đó.

Vì vậy, việc chuẩn bị dữ liệu bài bản, đồng bộ từ đồng ruộng đến nhà máy không chỉ giúp doanh nghiệp tự tin hơn khi xảy ra vụ việc, mà còn là cách để nông sản ĐBSCL khẳng định chất lượng và uy tín của mình.

* Để chuyển từ thế “có bị kiện mới đi lo chuẩn bị hồ sơ” sang chủ động chuẩn hóa và minh bạch dữ liệu vùng trồng thành thế mạnh cạnh tranh, bà có kiến nghị gì đến chính quyền các địa phương vùng ĐBSCL trong việc đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thưa bà?

- Để xuất khẩu nông sản ĐBSCL được ổn định và phát triển bền vững, tôi nghĩ cần sự hợp tác (chung tay) của cả chuỗi: từ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý và các tổ chức hỗ trợ. Cơ quan chức năng giữ vai trò quản lý, quy hoạch và tạo điều kiện; các tổ chức như VCCI, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng cùng đồng hành bằng thông tin, dự báo, đào tạo và tư vấn.

Trong phạm vi vai trò của mình, VCCI ĐBSCL thường xuyên cập nhật thông tin thị trường và cảnh báo sớm các xu hướng mới, tổ chức hội thảo, chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho doanh nghiệp và hợp tác xã, kết nối các tác nhân trong chuỗi. VCCI ĐBSCL cũng phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước để cùng nâng cấp chuỗi giá trị. Chúng tôi sẽ tiếp tục đồng hành và mong nhận thêm ý kiến đóng góp từ doanh nghiệp để các chương trình ngày càng sát hơn với nhu cầu thực tế.

* Xin cảm ơn bà!

THANH LONG

Chia sẻ bài viết