* LY GIANG
Bài cuối: Làm ǵ để giáo dục ĐBSCL thoát khỏi vùng trũng?
Trong thời đại kinh tế tri thức, “chim trời, cá nước” không c̣n được xem như thế mạnh hàng đầu. ĐBSCL trù phú, giàu tiềm năng nhưng nếu ĐBSCL thiếu lực lượng lao động có tay nghề, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao th́ ĐBSCL sẽ chậm phát triển. Chính v́ vậy, phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề (GD, ĐT& DN) ĐBSCL là một trong những nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu. Để rút ngắn khoảng cách GD, ĐT&DN ĐBSCL với các vùng miền khác trong cả nước, cần phải có sự vào cuộc của toàn xă hội.
Tăng cường đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn vốn
Hầu hết các tỉnh, thành ĐBSCL đều có ư kiến đề xuất Trung ương nên đầu tư mạnh hơn cho GD,ĐT&DN vùng ĐBSCL. Sự đầu tư này phải được tính toán một cách khoa học trên cơ sở dân số cùng những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xă hội của vùng. Đồng thời, trong đầu tư xây dựng, nên giao quyền chủ động cho các địa phương; đầu tư ít nhưng phải tập trung, đồng bộ và hiệu quả. Song song đó, phải có những chính sách đặc thù để phát triển kinh tế- xă hội làm nền tảng phát triển giáo dục ĐBSCL.
 |
|
Học sinh Trường THPT Trà Nóc (TP Cần Thơ) học trong pḥng học Anh văn hiện đại. Ảnh: L. G | Từ thực tế đầu tư xây dựng trường lớp ở ĐBSCL thời gian qua, ông Lê Minh Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, đề xuất: “Những chương tŕnh, dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp ở ĐBSCL thời gian qua chỉ tập trung vào xây dựng “pḥng học” chứ không phải đầu tư xây dựng “trường học”. Cách đầu tư nhỏ lẻ này chẳng những không đủ sức vực dậy GD, ĐT&DN toàn vùng mà c̣n làm lăng phí rất lớn nguồn tài chính của Nhà nước v́ thiếu sự đồng bộ nên không phát huy hiệu quả như mong muốn”. Ư kiến của ông Tùng cũng là ư kiến của lănh đạo nhiều địa phương. Thực tế thời gian qua cho thấy vẫn chưa có cơ chế tài chính đặc biệt và sự đầu tư có tính đột phá cho phát triển GD, ĐT&DN của ĐBSCL. Thử làm một bài tính so sánh: Đắc Lắc hơn Tiền Giang khoảng 100.000 dân nhưng phần chi đầu tư từ ngân sách cho GD của Đắc Lắc cao khoảng gấp đôi so với Tiền Giang. Xuất phát điểm của ĐBSCL rất thấp, tỉ trọng đầu tư lại không cao nên GD,ĐT&DN ĐBSCL như đứa trẻ hụt hơi, không “chạy” theo nổi với bạn bè.
Nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, có tay nghề nên chỉ trong vài năm hàng loạt trường đại học, cao đẳng và dạy nghề được thành lập nhưng lại không được đầu tư xứng tầm, không đủ điều kiện về con người kể cả cơ sở vật chất để đào tạo. Trường Đại học An Giang là một trường đại học mạnh trong các trường đại học ở ĐBSCL, chỉ sau Trường Đại học Cần Thơ. Trường được UBND tỉnh An Giang tạo điều kiện rất nhiều về kinh phí cũng như các chính sách thu hút nguồn nhân lực. Tuy nhiên, thành lập hơn 5 năm nhưng Trường Đại học An Giang cũng chưa đáp ứng được chỉ tiêu trên 50% giảng viên có tŕnh độ đại học trở lên. Thạc sĩ Lê Minh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, bức xúc: “Mỗi năm ngân sách dành cho giáo dục của tỉnh hơn 100 tỉ đồng nhưng Trường Đại học An Giang đă chiếm hơn 50% nguồn kinh phí này chi cho hoạt động thường xuyên. Đó là chưa kể từ khi thành lập đến nay, tỉnh đă đầu tư rất nhiều về cơ sở vật chất, khu 2 của trường với tổng kinh phí xây dựng khoảng 700 tỉ đồng. Kinh phí của tỉnh ít nên khi tập trung lo cho Trường Đại học An Giang th́ các bậc học khác phải chịu thiệt tḥi. Hiện nay, toàn tỉnh chỉ có 36 trường đạt chuẩn quốc gia trong tổng số 700 trường. Để đạt được tỷ lệ qui định của Trung ương vào năm 2010, tỉnh rất cần một nguồn kinh phí đầu tư lớn, một chương tŕnh đầu tư đồng bộ”.
Làm thế nào để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục cũng là vấn đề mọi người quan tâm. Những người làm công tác giáo dục đều cho rằng để được xây dựng một ngôi trường mới qui mô, được trang bị đầy đủ các trang thiết bị phải mất vài năm. Bởi các bước tiến hành xây dựng phải thông qua nhiều khâu: lập hồ sơ xây dựng, kinh phí... Thế nhưng không phải trường nào cũng phát huy hiệu quả sau khi xây dựng xong. Phải mất hơn 3 năm, Trường Tiểu học Mỹ Khánh 1, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ mới xây dựng xong, trường rất đẹp, qui mô lớn với gần 50 pḥng học và các pḥng chức năng. Thế nhưng, hơn 3 năm đưa vào sử dụng, trường chưa bao giờ được sử dụng hết công năng, chưa bao giờ các pḥng học được lấp đầy bởi không có nguồn học sinh. Do thực hiện khoán kinh phí, số học sinh lại ít, phần lớn hoàn cảnh gia đ́nh khó khăn, trường khó huy động được nguồn thu để bảo dưỡng cơ sở vật chất. Việc đầu tư trang bị các trang thiết bị phục vụ dạy học cho các trường ở nhiều nơi cũng không mấy hiệu quả. Cách đây hơn 4 năm, Trường THCS Thạnh Thắng 1, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ được trang bị ti vi, các thiết bị thí nghiệm Vật lư, Hóa học... nhưng không thể sử dụng v́ không có điện. Hơn thế, học sinh c̣n phải nhường pḥng học kiên cố, phải học ở pḥng học xuống cấp để bảo quản thiết bị tốt hơn. Do nhiều trường ở ĐBSCL rơi vào t́nh trạng xuống cấp, một số nơi thiếu pḥng học nên nhiều trường không có pḥng thiết bị, pḥng bộ môn. Chương tŕnh sách giáo khoa mới lại tập trung vào thí nghiệm thực hành nên có rất nhiều trang thiết bị. Không có đủ pḥng nên hầu hết trang thiết bị đều được dồn vào kho, rất khó sử dụng nên gây lăng phí là điều không tránh khỏi.
Tuy nhiên, ĐBSCL không phải chỉ cần tăng cường nguồn lực kinh tế là đủ mà yếu tố “con người- nguồn nhân lực chất lượng cao” cần phải được đặc biệt quan tâm. Thiếu người có năng lực, tŕnh độ chuyên môn th́ cho dù được đầu tư cao, ĐBSCL cũng khó thoát khỏi vùng trũng. V́ vậy, các địa phương cần có chính sách riêng để thu hút nhân tài, đồng thời xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực. Ông Thái Văn Long, Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau, nói: “Đề án Cà Mau- 120 (thuộc chương tŕnh Mekhong-1.000) nhằm đào tạo tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ quá tŕnh phát triển của tỉnh Cà Mau được nhiều người hy vọng. Nhưng đă hơn 4 năm, tỉnh Cà Mau vẫn chưa đưa được một nửa số lượng ứng viên của đề án lên đường đi du học. Nguyên nhân chính v́ không có nguồn, tŕnh độ ngoại ngữ của ứng viên chưa đạt yêu cầu”. Bên cạnh đó, dường như, ở các tỉnh, thành ĐBSCL vẫn chưa có chế độ đăi ngộ thỏa đáng nên không thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao mặc dù các tỉnh đều triển khai kế hoạch thu hút nhân tài đă nhiều năm. Ông Bùi Văn Dũng, Giám đốc GD&ĐT tỉnh Hậu Giang, nói: “Chế độ chính sách chưa thật sự hấp dẫn, điều kiện làm việc chưa thật tốt nên khó thu hút nhân tài”. Thậm chí ở nhiều tỉnh, thành, những thạc sĩ, kỹ sư do chính địa phương tài trợ đi học, sau khi học xong đă sẵn sàng bồi thường kinh phí để được đến các nơi khác có mức ưu đăi cao hơn... Rơ ràng, từ thực tế phát triển của ĐBSCL cho thấy không phải chỉ cần tăng cường đầu tư nguồn lực là đủ mà bài toán về “con người” cũng cần có lời giải nhanh và thấu đáo...
Cần có sự chuyển biến đồng bộ
Phải thừa nhận rằng, ĐBSCL xuất phát điểm thấp, thiếu nguồn đầu tư lớn nên khó có thể tạo nên sự đột phá. Nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Đặng Huỳnh Mai, chia sẻ: “Đă đến lúc các tỉnh ĐBSCL có những kế hoạch đầu tư cụ thể chi tiết để phát triển nguồn nhân lực của địa phương ḿnh với sự định hướng hỗ trợ của Trung ương. Lâu nay, dường như các địa phương chỉ xây dựng theo kiểu chắp vá mà không có một kế hoạch chiến lược cụ thể chỉ để riêng cho phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Thiếu chiến lược nên khó có thể đặt nền móng cho sự phát triển bền vững”. Cũng đồng quan điểm trên, ông Tô Minh Giới, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho rằng Quyết định 20 của Thủ tướng Chính phủ là đ̣n bẩy để vực dậy vùng ĐBSCL. Tuy nhiên các địa phương không phải chỉ dựa vào từng ấy kinh phí mà đẩy mạnh phát triển giáo dục được. Phải từ “đ̣n bẩy” này mà tạo sự chuyển biến của địa phương ḿnh. Ông Tô Minh Giới khẳng định: “Hơn 3 năm qua, TP Cần Thơ nói riêng và ĐBSCL đă có những thay đổi nhất định về cơ sở vật chất và đặc biệt là nhận thức của mọi người đă có sự thay đổi tích cực, tạo được sự đồng thuận từ tỉnh, thành đến cơ sở. Nhưng sự chuyển biến này chưa đồng bộ, rất cần sự đầu tư thêm của nhà nước và nỗ lực của chính quyền địa phương để tạo nên những bước chuyển ḿnh mạnh mẽ hơn nữa”.
Bên cạnh đó, ĐBSCL c̣n thiếu hẳn những chính sách thu hút các nguồn lực xă hội tham gia vào giáo dục. Khi cúm A(H1N1) xảy ra ở Trường THPT Dân lập Nguyễn Khuyến (TP Hồ Chí Minh), nhiều người mới biết có rất nhiều học sinh ĐBSCL vượt hàng trăm cây số để đến TP Hồ Chí Minh học phổ thông. Rơ ràng, phụ huynh, học sinh ở ĐBSCL vẫn có nhu cầu vào học các trường phổ thông ngoài công lập. Thế nhưng, toàn vùng ĐBSCL hiện vẫn chưa có một trường phổ thông dân lập qui mô và tạo dựng được niềm tin về chất lượng để đáp ứng được nhu cầu của người dân. TP Cần Thơ nói riêng và các tỉnh ĐBSCL hầu hết đều đă triển khai đề án xă hội hóa giáo dục theo Nghị quyết 05 ngày 18-4-2005 của Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động xă hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm triển khai, hiệu quả của đề án này chưa cao, hầu như chỉ là những vận động quần áo, tập vở... mà không có những quyết sách thật sự có thể thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Công bằng mà nói, không ít nhà đầu tư có tâm huyết với sự nghiệp trồng người nhưng c̣n e ngại đến hiệu quả của đồng vốn đầu tư. V́ vậy, họ chờ đợi những chính sách xă hội hóa thuận lợi hơn của các địa phương để mạnh dạn đầu tư... Tạo điều kiện để huy động nguồn lực từ bên ngoài cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục là một việc làm cần thiết hiện nay của ĐBSCL.
Ngoài ra, để học sinh an tâm đến trường phải có chính sách cho gia đ́nh học sinh nghèo. Bởi thực tế thời gian qua cho thấy, những học sinh nghèo đă nghỉ học một lần là sẽ có nguy cơ bỏ học lần tiếp theo sau khi được vận động trở lại lớp. Ông Nguyễn Thanh Phú, Hiệu trưởng Trường THPT Hà Huy Giáp, TP Cần Thơ, nói: “Chúng tôi hỗ trợ tập viết, học bổng... cho học sinh nghèo nhưng đó chỉ là giải pháp tức thời, giống như chỉ cho cá mà không cho cần câu. Thực tế, gia đ́nh và bản thân các em không thể sống được bằng số học bổng mà chúng tôi vận động hỗ trợ. Các em vẫn phải bươn chải để kiếm cái ăn, cái mặc th́ nghĩ ǵ đến chuyện học được nữa”. Phát triển GD, ĐT & DN ở ĐBSCL không phải chỉ là xây được bao nhiêu pḥng học, trang bị được bao nhiêu máy vi tính mà phải nghĩ cả đến việc học sinh sẽ sử dụng nó như thế nào nếu các em không đủ điều kiện để đến trường?! Không thể phủ nhận một bộ phận người dân ở ĐBSCL vẫn chưa quan trọng việc học nhưng phải khẳng định rằng, hiện nay, đó chỉ là một bộ phận nhỏ trong cộng đồng dân cư. Đại bộ phận người dân ĐBSCL mong muốn con cái học hành thành đạt nhưng “lực bất ṭng tâm” v́ nghèo khó. Giúp học sinh đến trường không phải chỉ cần cho cây viết, quyển tập là đủ mà cần có chính sách giúp cha mẹ học sinh có một nguồn thu nhập ổn định để học sinh có thể an tâm học tốt.
Cũng cùng quan điểm trên, tiến sĩ Đỗ Văn Xê, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ cho rằng không thể chỉ tập trung đầu tư vào GD, ĐT &DN mà phát triển GD, ĐT &DN. Bởi giáo dục không thể phát triển một ḿnh mà nó rất cần hệ thống chính sách ngoài giáo dục cùng phát triển. Ông Đỗ Văn Xê nhấn mạnh: “Thử hỏi việc ở nhà phụ giúp gia đ́nh mang lại nguồn lợi mỗi ngày với việc học hết lớp 12 nhưng vẫn không thể t́m được việc làm th́ có cần đầu tư cho con cái học hành trong khi hầu như tất cả người dân ĐBSCL đều sống bằng nghề nông, cần lao động. Chỉ khi nào chúng ta tạo được công ăn việc làm cho những thanh niên tốt nghiệp THPT, Trung cấp, cao đẳng... bằng một mức lương thỏa đáng th́ nhu cầu học tập của người dân sẽ tăng lên. Muốn làm được điều đó, rất cần sự phát triển đồng bộ các mặt kinh tế, văn hóa... chứ không riêng ǵ giáo dục”. Không phát triển được kinh tế, văn hóa, xă hội nên giáo dục khó ḷng phát triển được. V́ vậy, khi giáo dục yếu kém không có nghĩa là chỉ tập trung phát triển giáo dục mà rất cần đầu tư đồng bộ về kinh tế- xă hội, tạo điều kiện cho người dân thoát nghèo, nâng cao nhận thức của người dân.
* * *
ĐBSCL trù phú, giàu tiềm năng lúa- cá, đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển. Tuy nhiên, nếu không giải quyết được những yếu kém, tồn tại về GD,ĐT&DN, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu lực lượng lao động lành nghề, ĐBSCL khó có thể tận dụng và phát huy được những tiềm tăng kinh tế của ḿnh. Tạo một “đường băng” để GD,ĐT&DN ĐBSCL cất cánh cũng là tạo đà để kinh tế xă hội ĐBSCL phát triển mạnh mẽ hơn. Điều này đ̣i hỏi những chủ trương, chính sách cũng như sự đầu tư thỏa đáng từ phía Trung ương. Song song đó là sự quyết tâm của các tỉnh, thành, đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu trong đầu tư, phát triển để có được những cơ chế, chính sách phù hợp, thu hút nhiều nguồn lực xă hội đầu tư cho giáo dục. |